Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013

Người Sa-ma-ri nhơn lành-giảng luận


NGƯỜI SA-MA-RI NHƠN LÀNH.

                                                       MỤC SƯ LÊ VINH THÀNH
  ( Chủ Nhật, ngày 11 tháng 8 năm 2013 tại HT BT ĐLVN)
 Kinh thánh:                                                                              
“Khi ấy, có một luật gia đứng dậy hỏi để thử Đức Chúa Jêsus rằng: “ Thưa Thầy, tôi phải làm gì để hưởng sự sống đời đời ?”Ngài đáp: “ Trong luật pháp có chép điều gì? Người đọc và hiểu thế nào? Người ấy thưa: “ Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết tâm trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; Và yêu thương người lân cận như chính mình”. Đức Chúa Jêsus phán: “ Ngươi đáp phải lắm. Hãy làm điều đó thì ngươi sẽ sống”.
Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ mình là công chính nên thưa với Đức Chúa Jêsus: “ Ai là người lân cận tôi? ” Đức Chúa Jêsus đáp: “ Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô rơi vào tay bọn cướp. Chúng lột hết quần áo và đánh đập rồi bỏ đi, để mặc người đó dở sống, dở chết. Bấy giờ, có một thầy tế lễ tình cờ đi xuống đường đó, thấy nạn nhân thì đi tránh qua bên kia đường. Tương tự như thế, một người Lê-vi cũng đến nơi, thấy rồi cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần thấy nạn nhân thì động lòng thương xót liền áp lại, lấy dầu và rượu xức vào vết thương, băng bó lại, rồi đỡ nạn nhân lên con vật của mình và đưa đến quán trọ để săn sóc. Ngày  hôm sau, ông lấy hai đơ –ni-ê đưa cho chủ quán rồi nói: “ Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, sau khi trở về tôi sẽ hoàn lại. Theo ngươi nghĩ, trong ba người đó, ai là người lân cận với kẻ bị cướp? Luật gia thưa: “ Ấy là người đã bày tỏ lòng thương xót đối với nạn nhân”. Đức Chúa Jêsus phán: “ Hãy đi, làm theo như vậy”.( Lu-ca 10:25-37)

                                          GIẢNG LUẬN: 

Đạo đức học tôn giáo có điểm tương đồng với đạo đức học dân tộc. Có lẽ, từ những câu chuyện trong Kinh Thánh , đến những giáo lý tôn giáo đã ảnh hưởng sâu rộng trên nhân loại; Từ lý thuyết cộng hưởng với thực tế trải nghiệm, con người đã đưa ra những luận điểm luân lý dưới các hình thức văn hóa truyền khẩu, nhằm gửi gắm một thông điệp trong đạo đức xã hội. Trong câu chuyện ẩn dụ của Chúa Jêsus khắc họa hình ành về người Sa-ma-ri nhơn lành, cho ta nhớ về tục ngữ của người Việt Nam:“ Thương người như thể thương thân”. Dùng một ẩn dụ để trả lời một câu hỏi và đưa ra một ý tưởng sống, câu chuyện đã có tác động rất lớn về sự kêu gọi tình thương, như vũ khí chính ngôn về đạo đức hơn hai mươi  thế kỷ trôi qua, nhằm chống chia rẻ dân tộc, chống nạn phân biệt chủng tộc và kêu gọi tinh thần giúp đỡ , tương thân, tương ái trong cộng đồng các dân tộc trên thế giới . Câu chuyện trên từng là một nguồn cảm hứng của một số quốc gia đồng ý miễn thuế cho ai đóng góp vào quỹ từ thiện ở các nhà thờ tôn giáo.
   Chúng ta, đi sâu vào tìm hiểu từng khía cạnh cụ thể của câu chuyện, nhằm tìm lấy một ánh sáng lớn, như phần thưởng mà chúng ta đã nhận được từ Đức Chúa Trời. Từ đó, chúng ta thêm tự hào vì chúng ta đang góp phần nhân rộng hình ảnh người  Sa-ma-ri nhơn lành trong xã hội ngày nay.
Đọc Kinh Thánh bạn phải cần nhờ đến một vài tài liệu viết về phong tục, tập quán và một số tên gọi để chỉ việc làm của người xưa trong dân tộc Y-sơ-ra-ên. Cũng như địa lý, lịch sử  thời bấy giờ.
   Người Sa-ma-ri được biết đến trong Kinh Thánh nhằm bày tỏ một chủng tộc hơn là một tổ chức tôn giáo. Vua A-si-ri tiến chiếm cả xứ Pa-lét-tin và bao vây Sa-ma-ri trong ba năm. Sau đó chiếm Sa-ma-ri và đày dân Y-sơ-ra-ên sang A-si-ri và cho họ định cư tại Cha-la nước Mê-đi ( IICác Vua 17:5-6). Một số ít phụ nữ, trẻ em và dân nghèo còn tồn tại trong xứ Thánh. Vua A-si-ri đem người từ Ba-bi-lôn, Cu-tha, A-va, Ha-mát và Sê-phạt va-im đến định cư trong các thành của Sa-ma-ri ( IICác Vua 17:24). Các bộ tộc nầy mang theo tôn giáo của họ. Dân Y-sơ-ra-ên sót lại xứ Sa-ma-ri kết hôn với họ và trở thành dân Sa-ma-ri với  tôn giáo pha trộn. Khi những người Y-sơ-ra-ên bị bắt đi làm phu tù trở về quê hương để xây dựng đền thờ Giê-ru-sa-lem và quốc gia Do-thái, thì những người Do-thái ở Sa-ma-ri cũng tham gia, nhưng họ đã bị người Do-thái phu  tù phản đối và từ chối sự đồng công của họ. Người Do-thái cho rằng người Sa-ma-ri không tinh sạch bởi họ cưới gả và thờ thần của người ngoại quốc. Mâu thuẩn đó phát triển dần và kéo dài trong suốt lịch sử thời Tân Ứơc. Những người Do-thái phu tù trên đường đi từ Ga-li-lê xuống Giu-đa, họ cố tình đi qua sông Giô-đanh không đi qua Sa-ma-ri vì sợ ô uế. Ma-na-se là con trai của thầy tế lễ thượng phẩm Do-thái, đã cưới con gái của một nhân vật có quyền hành ở Sa-ma-ri và đi theo người Sa-ma-ri. Người Sa-ma-ri đã xây dựng đền thờ của họ trên núi Ga-đi-xim thuộc xứ Sa-ma-ri. Họ tôn quý năm cuốn sách Ngũ Kinh của Môi-se trong Cựu Ứơc. Có một số ít dân Do-thái đã bỏ tôn giáo của họ để lên núi thờ thần của người Sa-ma-ri. Chúa Jêsus và người đàn bà Sa-ma-ri được chép trong Tin Lành  Giăng 4:12, Người đàn bà đã nói tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp. Tôn giáo khác biệt và sự hòa lẫn huyết thống của người Sa-ma-ri vẫn tồn tại cho đến ngày nay, hiện họ vẫn còn thờ trên núi Ga-ri-xim.
   Thầy Tế lễ  lần đầu tiên được thiết lập trong sứ vụ lãnh đạo của Môi-se. A-rôn, các con trai và hậu tự của ông được biệt riêng đời đời trong chức tế lễ. Vì tính cha truyền con nối nên thầy tế lễ phải chứng minh tính huyết thống trong dòng họ A-rôn. Công việc chính là trông nom lửa trên bàn thờ của lễ thiêu luôn cháy. Họ có y phục riêng dành cho chức tế lễ. Đi chân không khi vào đền thờ và khi vào đền tạm buộc họ phải rửa tay và chân. Họ được hưởng 1/10 số tiền thuế được nộp cho người Lê-vi. Được nhận bánh trần thiết, và thịt từ của lễ thiêu, lễ chay và của lễ đưa qua đưa lại. Họ cũng được hưởng một phần trong các chiến lợi phẩm. Họ có trách nhiệm dạy luật pháp của Đức Chúa Trời cho con cái của họ, đôi lúc tham gia như một tòa thượng thẩm trong các vụ vụ tranh cãi. Trong xã hội họ tự hào là giai cấp lãnh đạo tôn giáo thánh thiện nhất, đem tình thương Thiên Chúa vào trang bị cho nền pháp luật và đạo đức xã hội. Họ đại diện cho dân sự trong các việc liên quan đến Đức Chúa Trời. Khi không còn làm việc ở đền thờ, các thầy tế lễ hành đạo trong cương vị của một giáo sư Kinh Luật ( II Sử 15:3).
   Người Lê-vi có nhiệm vụ chăm sóc tài sản của đền thờ, lần đầu tiên được xuất hiện trong sứ vụ lãnh đạo của Môi-se. Họ có nhiệm vụ mang hòm giao ước và khí mạnh Thánh khi người Y-sơ-ra-ên di chuyển. Người Lê-vi không được hưởng bất cứ điều gì trong Đất Hứa. Nên họ không có tài sản và ruộng đất, ngược lại họ được ban 48 đồng cỏ cho bầy súc vật, được cung cấp của lễ do dân chúng trả cho họ. Họ như lực lượng bảo vệ của đền thờ và trung gian giữa dân sự với các thầy tế lễ. Họ phục vụ trong tòa công luận, ban lễ tân, ban nhạc trong ca đoàn của đền thờ và một số lễ quan trọng khác.
   Luật gia là người giải thích luật pháp ( Tít 3: 13), thường thì các thầy thông giáo giải thích luật công còn luật gia thì phân tích luật tư. Trong câu chuyện nầy vị luật gia hỏi để thử, và vị nầy đã giống như các các thầy thông giáo và người Pha-ri-si cậy công bình riêng. Có linh  tôn giáo không có sự liên hệ với Đức Chúa Trời. Mục đích dùng luật pháp sở trường về sự hiểu biết của mình để tấn công Chúa Jêsus. Luật gia đặt hai câu hỏi, làm gì để được sự sống đời đời? Và ai là người lân cận tôi?
“Khi ấy, có một luật gia đứng dậy hỏi để thử Đức Chúa Jêsus rằng: “ Thưa Thầy, tôi phải làm gì để hưởng sự sống đời đời ?”Ngài đáp: “ Trong luật pháp có chép điều gì? Người đọc và hiểu thế nào? Người ấy thưa: “ Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết tâm trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; Và yêu thương người lân cận như chính mình”. Đức Chúa Jêsus phán: “ Ngươi đáp phải lắm. Hãy làm điều đó thì ngươi sẽ sống”. ( Lu-ca 10: 25-28).
Tâm lý luật gia hỏi để thử - biểu hiện một thái độ đạo đức giả và tỏ vẻ coi thường Chúa Jêsus. Chứ không phải hỏi để học. Câu hỏi đặt cho chúng ta có sự liên tưởng trong câu chuyện người thanh niên giàu có hỏi Chúa Jêsus trong Lu-ca 18: 18-30. Ở đây, Chúa Jêsus trả lời trong phong cách của một Giáo Sư Nước Trời hỏi một người có am hiểu về luật pháp trong ý thức văn tự. Trong luật pháp có chép điều gì? Ngươi đọc và hiểu thế nào?
Sau câu trả lời, Chúa Jêsus đáp: Ngươi đáp phải lắm. Hãy làm điều đó thì ngươi sẽ sống.
Nghĩa là: Về mặt lý thuyết điều đó đúng và căn dặn: Phải thể hiện bằng việc làm, bằng hành động. Cụ chế hóa luật lệ Nước Trời.
   “ Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ mình là công chính nên thưa với Đức Chúa Jêsus: “ Ai là người lân cận tôi? ” ( Lu-ca 10: 29).
Chúa Jêsus không trả lời trực tiếp, mà Ngài bày tỏ ý tưởng bằng một ẩn dụ, để động não, suy nghĩ và tìm giải pháp để minh định câu trả lời. Ai là người lận cận? Chúa Jesus đặt trọng tâm đối tượng chính là người Sa-ma-ri. Cần phải sống và hành động như người Sa-ma-ri trong câu chuyện ẩn dụ. Ở đây, bao quanh Chúa Jêsus là người Do-thái, những người đang để ý lắng nghe từng Lời của Chúa. Ngài chọn chủ đề cần hòa hợp giữa các dân tộc, chính sự hòa hợp mới tạo sức mạnh cộng đồng. Chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo. Người Sa-ma-ri đã bị người Do-thái khinh miệt, tránh xa, bài xích. Thậm chí còn muốn họ bị tuyệt chủng. Sự tồn tại của người Sa-ma-ri đã bị người Do-thái xem như không có liên quan gì với họ.
Suốt 3 năm trong chức vụ truyền giáo Chúa Jêsus đã bị người Pha-ri-si và các thầy thông giáo tố cáo và buộc tội Ngài gần gũi với phường thâu thuế và những người tội lỗi. Trong ẩn dụ nầy Chúa Jêsus đã khẳng định tại sao Ngài phải hành động như thế. “ Đức Chúa Jêusu đáp: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc đâu, nhưng là người đau ốm, Ta  không đến để  gọi người công chính, nhưng gọi kẻ có tội ăn năn” ( Lu-ca 5: 31-32).
“Đức Chúa Jêsus đáp: “ Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô rơi vào tay bọn cướp. Chúng lột hết quần áo và đánh đập rồi bỏ đi, để mặc người đó dở sống, dở chết” ( Lu-ca 10: 30) Người bị rơi vào tay bọn cướp là một người không được kể có tên tuổi, có họ hàng, có địa vị, là ai, dân tộc nào… Là người đồng loại đang bị tổn thương về thể xác và tâm linh. Là người dở sống, dở chết, họ đang bị khinh miệt, đang cần những sự thương xót từ đồng loại. Họ đang cần sự an ủi, khích lệ, cứu vớt. Họ không cần những lý thuyết thông tuệ của các lãnh tụ tôn giáo. Đoạn đường từ Giê-ru-sa-lem đến thành Giê-ri-cô trong thực tế chỉ dài hơn 20 km nhưng rất nhiều bọn cướp bóc.
“Bấy giờ, có một thầy tế lễ tình cờ đi xuống đường đó, thấy nạn nhân thì đi tránh qua bên kia đường. Tương tự như thế, một người Lê-vi cũng đến nơi, thấy rồi cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần thấy nạn nhân thì động lòng thương xót liền áp lại, lấy dầu và rượu xức vào vết thương, băng bó lại, rồi đỡ nạn nhân lên con vật của mình và đưa đến quán trọ để săn sóc. Ngày  hôm sau, ông lấy hai đơ –ni-ê đưa cho chủ quán rồi nói: “ Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, sau khi trở về tôi sẽ hoàn lại. Theo ngươi nghĩ, trong ba người đó, ai là người lân cận với kẻ bị cướp? Luật gia thưa: “ Ấy là người đã bày tỏ lòng thương xót đối với nạn nhân”. Đức Chúa Jêsus phán: “ Hãy đi, làm theo như vậy”( Lu-ca 10: 30-37).
Ba người cùng thấy một nạn nhân bị thương, cả ba đều có công việc riêng tư của mình. Hai người thầy tế lễ và người Lê-vi đang nói về đạo đức, là nhà hoạt động tôn giáo nhưng không hành động, họ sợ  có liên quan rắc rối, và đó cũng không phải là việc của họ, mặc dù họ đang rao giảng về đạo đức. Chúa Jesus đã từng quở họ: Nói nhưng không làm.  Người Sa-ma-ri bị Do-thái khinh miệt kia, họ có lòng thương xót, dừng lại lấy dầu để xức nhằm giảm đau và dùng rượu để sát trùng vết thương. Họ bỏ tiền ra, chấp nhận tốn kém và nhờ người trong quán trọ săn sóc, hứa sẽ trở lại và thanh toán số tiền chi phí trong việc săn sóc người bị thương.
Trong ẩn dụ trên những người Cơ đốc đầu tiên suy nghĩ rằng: A-Đam chính là người đàn ông bị kẻ cướp đánh đập, cũng là loài người đang bị sa ngã. Kẻ cướp chính là quyền lực tối tăm, sa tan. Giê-ru-sa-lem là Thiên đàng, Giê-ri-cô là địa ngục. Thầy tế lễ, người Lê-vi là linh tôn giáo. Quán trọ là Hội Thánh, Người  Sa-ma-ri nhơn lành là Chúa Jêsus đã bị người Do-thái tiêu diệt. Dầu là Lời của Chúa, có tác dụng giảm nổi đau nhân loại, an ủi người bị tổn thương;  Rượu là hành động đạo đức cụ thể và là đời sống của cơ đốc nhân trong Hội Thánh.ngày nay.  Quán trọ là Hội Thánh. Hội Thánh là nơi săn sóc người bị tổn thương. Hội Thánh là nơi Đức Chúa Jesus giao những người bị tổn thương để chúng ta dùng Lời Chúa chăm sóc họ và đời sống phước hành của chúng ta giúp đỡ họ xa rời lối sống thế gian. Hội Thánh đã được Chúa ban phước và sẽ được trả thưởng khi Chúa Jêsus trở lại. Hình ảnh của Người Sa-ma-ri nhơn lành là hình ảnh của Chúa Cứu Thế Jêsus. Và ngày nay Chúa muốn mỗi Cơ đốc nhân là người Sa-ma-ri nhơn lành.
Cả hai câu hỏi Chúa Jêsus đều có kết luận: “Hãy đi, làm theo như vậy”
Kết luận:
Ai cũng cần có tình yêu thương và sự giúp đỡ. Tình yêu thương từ trái tim đến trái tim. Chúa muốn chúng ta yêu đồng loại như chính trái tim mình. Ở đây, sự thương xót luôn đi kèm với sự tốn kém thời gian và tiền bạc. Nhưng những gì tưởng như mất kia lại được chính Đức Chúa Trời ban phước lại. Nếu mọi người làm theo Lời Chúa thì xã hội luôn tốt hơn. Sự ban cho bao giờ cũng có phước hơn là nhận lãnh. Chung quanh chúng ta có rất nhiều người đang bị dở sống dở chết về thuộc linh. Họ đang trên đường xuống địa ngục, nếu chúng ta không đem Tin Lành cứu rỗi đến cho họ, thì thật là một điều đáng tiếc.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
                   





Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Chúa Jêsus nộp thuế-giảng luận


CHÚA JÊSUS NỘP THUẾ

                                                 Mục sư LÊ VINH THÀNH
( Chia sẻ Chủ Nhật ngày 28/7/2013 tại HT Báp-Tít Độc Lập Việt Nam).

“ Cả hội đồng đứng dậy giải Ngài đến trước Phi-lát. Họ bắt đầu tố cáo Ngài rằng: “ Chúng tôi đã phát hiện người nầy xúi giục dân chúng nổi loạn, ngăn cấm chúng tôi nộp thuế cho Sê-sa và xưng mình là Đấng Christ, là Vua” ( Lu-ca 23:1-2).

  1.  Chúa Jêsus có ngăn cấm nộp thuế cho Sê-sa ?
     a. Đóng thuế cho đền thờ:
         “ Khi đến thành Ca-bê-na-um, những người thu thuế đền thờ đến hỏi Phi-e-rơ : “ Thầy các anh có nộp thuế không ?” Phi-e-rơ đáp: “ Có” Khi Phi-e-rơ vào nhà Đức Chúa Jêsus hỏi người trước:  “ Si-môn ơi, con nghĩ sao? Các vua thế gian bắt ai làm sưu, đóng thuế? Các con trai mình hay người ngoài. Phi-e-rơ thưa: “ Người ngoài”. Ngài phán rằng: “ Vậy thì các con trai được miễn”. Nhưng để khỏi tạo cớ vấp phạm cho họ, con hãy ra biển câu cá, bắt lấy con cá nào mắc câu đầu tiên, mở miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc. Hãy lấy đồng bạc ấy đóng thuế cho Ta với con” ( Ma-thi-ơ 17: 24-27).
   b.Hoàn cảnh lịch sử thời Chúa Jêsus xuất hiện: ( Từ 63 TC và 600 SC)
         Do-thái nằm dưới sự cai trị của Đế Quốc La-mã. Đế quốc La-mã thực thi chính sách dùng người bản xứ để cai trị người bản xứ. Do vậy, họ cử Antipater, người xứ Ê-đôm làm tổng trấn toàn vùng. Sau đó, con trai của Antipater kế thừa và tự xưng là Hê-rốt Đại Vương. Chính vị vua nầy đã ra lịnh giết tất cả các bé trai từ hai tuổi trở xuống tại thành Bết-le-hem và các vùng phụ cận. ( Ma-thi-ơ 2:16). Hơn 30 năm sau một người con trai của ông là Hê-rốt Antipas đã giết Giăng Báp-tít ( ( Mác 6:14-29). Và chế giễu Chúa Jêsus ( Lu-ca 23:7-12). 14 năm sau cháu nội của Hê-rốt Đại Vương là Hê-rốt Ac-rip-ba  I giết sứ đồ Gia-cơ ( Công 12:1-2), 16 năm sau nữa chắc nội của Hê-rốt Đại Vương là Ac-rip-ba  II đã xét xử Phao-lô ( Công 25:13-16).
      c. Luận về thuế:
          Dân chúng Do-thái thời ấy phải đóng thuế cho hai quyền lực: Tôn giáo và chính quyền. Đóng thuế cho Đền thờ để nuôi sống giai cấp tăng lữ và xây dựng-trùng tu đền thờ. Đóng thuế cho đế quốc La-mã để nuôi chính quyền Hê-rốt và  cơ quan công quyền của đế quốc La-mã.
Thuế là gì trong định nghĩa ngày nay? Theo Wikipedia Thuế hay thu ngân sách nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ Ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước.
Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đóng thuế vừa là quyền lợi được thực thi trách nhiệm công dân đóng góp cho sự phát triển phồn vinh của đất nước, vừa là nghĩa vụ phải thực hiện của mỗi công dân.
   -  Thuế Đền thờ:   Thời ấy, nam giới trên 20 tuổi phải đóng thuế cho Đền thờ, khoảng 1/2 Siếc-lơ Ga-li-lê (ngoại trừ phụ nữ, trẻ em và nô lệ được miễn) ( Xuất 30:13-14 ). Kể cả những người Do-thái sống ngoài lãnh thổ Pa-lét-tin. Lúc bấy giờ  có nhiều loại tiền tệ lưu thông trên nền tài chính Do-thái. Nhưng việc đóng thuế cho Đền thờ phải bằng chính tiền Do-thái. Đóng các loại tiền khác xem như ô uế.
 “ Si-môn ơi, con nghĩ sao? Các vua thế gian bắt ai làm sưu, đóng thuế? Các con trai mình hay người ngoài. Phi-e-rơ thưa: “ Người ngoài". Chúa đã nêu lên một tình nghĩa Phụ-Tử. Thiên Chúa không đòi hỏi ở con mình.
Và đặc biệt các Rabi  được miễn thuế. Như vậy, Chúa Jêsus cũng là Rabi –tức là Thầy dạy luật pháp Nước Trời. ( Giăng 18:20) Nhưng người Do-thái đã không thừa nhận  vai trò Rabi của Chúa Jêsus.Cho nên họ đã nhận phần thuế của Ngài. Dân Do-thái trung tín trong việc nộp thuế cho Đền thờ, vì không nộp thuế họ sợ gây cớ vấp phạm cho đồng bào vì chống lại luật tổ tiên và sự cố tình ly khai Y-sơ-ra-ên.Ở một phương diện khác, đóng thuế cho đền thờ để cho người Do-thái giáo không chỉ trích người Cơ đốc giáo bỏ trách nhiệm trong tinh thần dân tộc. Về ý nghĩa,việc đóng thuế của Chúa Jêsus đã góp phần xây dựng đức tin đúng đắn cho Cơ đốc nhân ngày nay. 
" Nhưng để khỏi tạo cớ vấp phạm cho họ, con hãy ra biển câu cá, bắt lấy con cá nào mắc câu đầu tiên,    mở miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc. Hãy lấy đồng bạc ấy đóng thuế cho Ta với con” ( Ma-thi-ơ 17: 27”.
Phi-e-rơ là ngư phủ, việc bắt cá không mấy khó khăn, Chúa Jêsus đã dùng sở trường của Phi-e-rơ để thực hiện một phép lạ. Cho Phi-e-rơ biết rằng Ngài có quyền năng. Trong thế quyền Ngài đủ tư cách để miễn thuế.Gửi thông điệp: Sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. 
Chúa Jêsus không chống lại việc đóng thuế cho đền thờ. 
   2. Chúa Jêsus có ngăn cấm dân Do-thái nộp thuế cho Sê-sa:
    a. Kinh Thánh: 13 Sau đó họ sai một số người Pha-ri-si và một số người của Hê-rốt đến gài bẫy để Ðức Chúa Jêsus lỡ lời. 14 Họ đến với Ngài và nói, “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và không thiên vị ai, vì Thầy không cả nể ai, nhưng cứ theo chân lý dạy dỗ đường lối của Ðức Chúa Trời. Có nên nộp thuế cho Sê-sa không?Chúng tôi nên nộp hay không nên nộp?”15 Nhưng khi thấy vẻ đạo đức giả của họ, Ngài nói với họ, “Tại sao các ngươi muốn thử Ta? Hãy đem cho Ta xem một đồng tiền.”16 Họ đưa cho Ngài một đồng tiền. Ngài hỏi họ, “Hình ảnh và danh hiệu nầy của ai?”Họ trả lời Ngài, “Của Sê-sa.”17 Ðức Chúa Jêsus nói với họ, “Hãy trả cho Sê-sa những gì của Sê-sa, và hãy trả cho Ðức Chúa Trời những gì của Ðức Chúa Trời.” Họ đều sững sờ về câu trả lời của Ngài.
       b. Hai nhóm khác biệt:
           Những kẻ gài bẫy Chúa Jêsus đến từ hai nhóm khác biệt, họ giữ lấy những niềm tin đối ngược nhau.
        -         Người Pharisi: Là một hội đoàn tôn giáo, quan tâm đến phong tục truyền thống cổ của người Do-thái.  Là những nhà bảo thủ tôn giáo của thời buổi ấy. Họ thiên về với luật pháp, trong đó họ tìm cách giữ lấy từng chữ của Luật pháp Đức Chúa Trời sao cho thật trọn vẹn. Họ kiêu ngạo và cậy công bình riêng. Họ không có mối liên hệ nào với Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus đã nhiều lần quở trách họ.Quan điểm chính trị họ thuộc chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cam chịu dưới sự cai trị của đế quốc La-mã để dễ bề hoạt động tôn giáo, nhưng cũng rất muốn tìm cách thoát ra.
        -          Đảng Hêrốt là một đảng chính trị giữa vòng những người Do thái, ủng hộ Vua Hêrốt. Họ là nhóm hưởng lợi ích vì cớ sự chiếm đóng của người Lamã.  La-mã cai quản xứ sở của họ, dân chúng Do-thái  được tự do tôn giáo, chính đảng Hê-rốt được bảo hộ của đế quốc La-mã. Họ tìm cách đưa văn hóa La-mã vào Y-sơ-ra-ên, và chống đối người Do-thái  chống nghịch đế quốc La-mã.
      Hai nhóm nầy là hai cực đối lập, họ đến với nhau vì mục tiêu chung: Tìm cách giết Chúa Jêsus ( Mác 3:6).
      Trong thế quyền Chúa Jêsus đi con đường không cùng với họ. Không chủ trương bạo động. “…Ai cầm gươm thì sẽ chết vì gươm” ( Ma-thi-ơ 26:52). Chúa Jêsus có mối quan hệ với Đức Chúa Trời, có mối quan hệ với người lân cận theo tình yêu thương. Có hình thức tổ chức quản trị không phải bằng thống trị, cai trị hay mệnh lệnh mà là đầy tớ cho anh em mình ( Ma-thi-ơ 20:26). Yêu thương kẻ thù nghịch, cầu nguyện cho kẻ bắt bớ. Trong số họ về sau  bỏ quan điểm chính trị và tôn giáo của họ, đi theo đường hướng của Chúa Jêsus. Trong số 12 môn đồ của Chúa Jêsus có  Si-môn Xê-lốt người Ca-na-an, là một thành viên của đảng phái chính trị có lòng ái quốc cuồng nhiệt, tin tưởng sự độc lập của Y-sơ-ra-ên và bất hợp tác với đế quốc La-mã. Chúa Jêsus phục sinh đã “tái sinh” đời sống của ông, và sử dụng lòng nhiệt thành của ông cho công việc Nước Trời.. Một nhân vật thứ hai là nhân viên thuế vụ Ma-thi-ơ (Ma-thi-ơ 10:3). Dân Do-thái rất ghét các viên chức thuế vụ vì làm tay sai cho đế quốc La-mã. Ma-thi-ơ đã được Chúa Jêsus dạy dỗ đúng đắn trở thành môn đồ của Ngài.. Điều đó cho thấy đạo đức và quyền năng của Chúa Jêsus trong sứ vụ rao giảng Tin Lành của Nước Trời đã vượt xa  tôn giáo và chính nghĩa của các đảng phái chính trị  đương thời. Về sau Phao-lô cũng là một thành viên tích cực của nhóm Pha-ri-si đã bị Chúa Jêsus phục sinh bắt phục, trở thành một người học trò xuất sắc trong việc đem Tin Lành đến cho dân ngoại.
      c. Vương Quốc Thiên Đàng:
     "  Họ đến với Ngài và nói, “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và không thiên vị ai, vì Thầy không cả nể ai, nhưng cứ theo chân lý dạy dỗ đường lối của Ðức Chúa Trời. Có nên nộp thuế cho Sê-sa không?Chúng tôi nên nộp hay không nên nộp?”15 Nhưng khi thấy vẻ đạo đức giả của họ, Ngài nói với họ, “Tại sao các ngươi muốn thử Ta? Hãy đem cho Ta xem một đồng tiền.”16 Họ đưa cho Ngài một đồng tiền. Ngài hỏi họ, “Hình ảnh và danh hiệu nầy của ai?”Họ trả lời Ngài, “Của Sê-sa.”17 Ðức Chúa Jêsus nói với họ, “Hãy trả cho Sê-sa những gì của Sê-sa, và hãy trả cho Ðức Chúa Trời những gì của Ðức Chúa Trời.” Họ đều sững sờ về câu trả lời của Ngài.
      Hình ảnh và danh hiệu trên đồng tiền thể hiện vương quốc trên đất của đế quốc La-mã. Một thế lực quyền bính của thế quyền. Nhưng đồng thời Chúa Jêsus cũng công bố một Vương Quyền với vị Vua Đời Đời,  vị Vua không chỉ giới hạn của thời gian và không gian, mà là Đức Chúa Trời đáng tôn thờ.Ngài là Vua tạo ra loài người, đang dẫn dắt loài người và là Đấng tạo nên lịch sử của nhân loại.
     " Chính Ta là Đấng dùng quyền năng lớn lao và cánh tay giang ra mà tạo dựng trái đất, loài người và loài thú trên mặt đất và ban đất ấy cho ai tùy ý Ta" ( Giê-rê-mi 27:5).
    "  Chính Ngài thay đổi thì giờ và mùa phế lập các vua" ( Đa-ni-ên 2:21a)
     3. Kết luận:
          Chúa Jêsus không chống đối nộp thuế cho đền thờ, nhà nước, mà còn công bố một nhà nước tồn tại trong sự thật, nhà nước vượt trên thế quyền, thống trị thế quyền và vĩnh hằng: Tồn tại đời đời.Vương Quốc của Đức Chúa Trời.
-----------------------------

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Tư tưởng thần học của Phao-lô - Đề tài nghiên cứu

TƯ TƯỞNG THẦN HỌC CỦA PHAO -LÔ.
                                                                        Mục sư LÊ VINH THÀNH

                                                                       BỐ CỤC 

II. CUỘC ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHAO-LÔ:
   1. Tuổi trẻ.
   2. Tiếp nhận Đấng Christ.
   3. Truyền giáo.
   4. Vai trò của Phao-lô với Hội Thánh đầu tiên.
III. TƯ TƯỞNG THẦN HỌC CỦA PHAO -LÔ:
   1. Đức tin và sự xưng công chính.
   2. Quyền Sứ đồ.
   3. Tội lỗi và quyền lực tối tăm.
   4. Luận giải về sự cứu rỗi và luật pháp Môi-se.
   5. Thánh Linh Học.
   6. Hội Thánh là thân thể Đấng Christ.
   7. Sự sống mới.
   8. Quan điểm về xã hội học.
   9. Quan điểm về Vương Quốc Thiên Đàng và lai thế.
IV. KẾT LUẬN.
------------------------------------------------------------------------------
I.CUỘC ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHAO-LÔ:
   1. CUỘC ĐỜI PHAO-LÔ:
       - Phao-lô còn gọi là sau -lơ, là một Sứ đồ cột trụ trong Hội Thánh đầu tiên, vị Sứ đồ của dân ngoại, một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển Cơ Đốc Gíao thời kỳ sơ khai.
     - Phao-lô là người Do-thái, sinh tại Tạt-sơ( Tarsus), xứ Si-li-si (Cilicia)( Công vụ 9:11; 21:39; 22:3), một thành phố phía đông của biển Địa Trung Hải ( nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ), nhiều sử gia tiên phỏng Ông xuất hiện vào khoảng giữa năm thứ 5-10 sau Công nguyên.Phao-lô đã được trưởng dưỡng ở thành phố Giê-ru-sa-lem, được học với thầy Rabbi nổi tiếng đương thời là Ga-ma-li-ên. Ông được cắt bì ngày thứ 8, thuộc dòng dõi Y-sơ-ra-ên, bộ tộc Bên-gia-min, là người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ ( Phi-líp 3:5).Thuộc người Pha-ri-si . Khi chưa gặp Chúa Jêsus phục sinh, Ông là người theo Do-Thái-Giaó, thẳng tay bắt bớ và cố tiêu diệt Hội Thánh của Đức Chúa Trời, hăng say với các giáo lý-giáo luật truyền thống của tổ tiên ( Gal 1:13-14)
     - Phao-lô nói tiếng Hi-lạp, ngôn ngữ phổ biến thời bấy giờ ( Công 21:37) và tiếng Hê-bơ-rơ của người Do-thái. Phao-lô có quốc tịch Rô-ma ( Công vụ 22:27-28), quyền nầy là một lợi thế đã được Sứ đồ Phao-lô sử dụng để tranh luận với phe đối lập nhằm bênh vực cho chức vụ và công việc truyền giáo của Phao-lô.(công vụ 16:37-38; 22:25-29; 23:27-28).
     - Không giống như mười hai vị Sứ đồ đầu tiên, được Chúa Jêsus kêu gọi và dạy dỗ, chứng kiến công việc truyền giảng và phép lạ Chúa Jêsus đã làm. Phao -lô nhiệt tình bắt bớ những người tin Chúa Jêsus vì Ông là người say mê truyền thống tổ tiên và là người theo Đạo Do-thái  Giaó. Sự xuất hiện của Chúa Jêsus và công việc Chúa làm đã thay đổi rất nhiều qui cũ đã được định hình về mặt tôn giáo lúc bấy giờ. Số người nghèo khổ, bệnh tật, quỷ ám  và nhóm người bị khinh bỉ được Chúa Jêsus tiếp cận và chữa lành. Các thầy thông giáo dòng Pha-ri-si, Sa-đu-sê bị Chúa Jêsus lên án. Ngài đã đến và truyền rao về Vương Quốc của Đức Chúa Trời, Ngài công bố Ngài là Con của Đức Chúa Trời...Trong cách nhìn của giới quý tộc, trí thức và tôn giáo đương thời, mà đại diện là phái Sa-đu-sê và dòng Pha-ri-si nhìn Jêsus như một người chống đối, làm loạn và dị giáo. Phao-lô là một thành viên trong nhóm có cách nhìn như vậy. Cậy sự khôn ngoan và hiểu biết của mình, Phao-lô cho  rằng Chúa Jêsus bị hành hình trên thập tự giá là một sự rủa sả mà Đức Chúa Trời trừng phạt hơn là sự ban phước.

Ông đã tán thành việc một người theo Jêsus là Ê-tiên bị giết, Phao-lô tàn hại Hội Thánh, xông vào từng nhà bắt đàn ông lẫn đàn bà bỏ tù. Thậm chí xin thầy tế lễ thượng phẩm viết thư giới thiệu đến các nhà hội ở Đa-mách bắt trói những môn đồ  và những người thuộc về Jêsus để giải về Jê-ru-sa-lem. Trên đường đi gần đến thành Đa-mách. Phao-lô đã bị ánh sáng từ trời chiếu lòa trên đôi mắt, ông té xuống và có tiếng phán: " Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ sao ngươi bắt bớ Ta? Ông thưa: " Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa Phán Ta chính là Jêsus mà ngươi đang bắt bớ " ( Công vụ 9:4-5). Câu hỏi của Chúa Jêsus: " Sao ngươi bắt bớ Ta" mà sau nầy trong các tác phẩm của Phao-lô đã làm nổi bật ý nghĩa của câu hỏi nầy. Như Đấng Christ là đầu Hội Thánh, Hội Thánh là thân thể Chúa. Hay là: " Anh em không biết rằng anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trong anh em sao, nếu người nào phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt người ấy, vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, và đền thờ ấy chính là anh em" ( ICô-rinh-tô 3:16-17)." 
     - Chúa Jêsus đã làm cho mắt Phao-lô mù trong ba ngày, sau đó Ngài dùng môn đồ của Ngài là A-na-nia đến để đặt tay cầu nguyện và làm báp-têm cho Phao-lô. Sau đó, Phao-lô đã được sáng mắt, đầy dẫy Đức Thánh Linh và công bố Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, và mạnh mẽ biện luận Chúa Jêsus là Đấng Christ.
     - Phao-lô được kính trọng và yêu thương như một vị Thánh bởi các giáo hội trong Cơ Đốc Gíao: Công Gíao Rô-ma, Chính Thống Giaó Đông Phương, và các Giaó hội thuộc các hệ phái Tin Lành.
      - Từ một người đang bắt bớ Hội Thánh, bảo vệ tính chính thống của Do Thái Giaó, sang rao giảng Đấng Christ là trung tâm của Đạo Chúa, và Ông đã đem kiến thức trong Kinh Thánh Cựu Ước để giải thích tính chính thống trong sự xuất hiện của Chúa Jêsus Christ. Phao-lô đã trở thành nhà cải cách cho cả Do-Thái-Giaó và Cơ Đốc Giaó. 
     - Trong thư gửi cho các anh chị em ở Cô-rinh-tô, Phao -lô đã xác lập quan điểm thần học của mình:
 " Trong lúc người Do-thái đòi dấu lạ, người Hi-lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, thì chúng tôi rao giảng Đấng Christ bị đóng đinh vào thập tự giá, điều mà người Do-thái cho là sai lầm, còn dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những người được kêu gọi, cả Do-thái hay Hi-lạp thì Đấng Christ là quyền năng và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời" ( ICôr 1:22-24).
     -  Phao-lô chịu ảnh hưởng của văn hóa Hi-lạp, và là người Do-thái thuộc dòng Pha-ri-si học với các Rabbi, Đức Chúa Trời đã chọn Phao-lô để xây dựng đức tin của Cơ đốc giáo trong ý muốn của Đức Chúa Trời. Các thư tín của Phao-lô góp phần vào Kinh Thánh, làm cho nổi bật tính trung tâm của Đấng Chirist trong suốt chiều dài của Kinh Thánh. 
     - Giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái  Giaó cũng như những người Do-thái đương thời  đã gây rất nhiều khó khăn cho công việc truyền giảng Tin lành của Phao-lô.  
     - Chúa Jêsus đã chọn Phao-lô là một Sứ đồ để đem Tin Lành đến cho dân ngoại, các Vua và các con dân Y-sơ-ra-ên ( Công vụ 9:15). Điều đó, Phao-lô có nhận thức rất rõ, và Ông nhận lấy như một quyền đến từ Đức Chúa Trời, Nhận quyền ấy như một trọng trách mà Phao-lô luôn phải giữ mình. Phao-lô vui lòng không vì những danh lợi tầm thường của thế gian, Ông phụng sự Thiên Chúa với một trách nhiệm cao cả và đã thành công. Sứ đồ Phao-lô đã đem Tin Lành cho các quốc gia Châu Âu, và qua Phao-lô Cơ Đốc Giaó đã phát triển, các tác phẩm của Phao-lô đã góp phần làm cho  Kinh Thánh đầy đủ và trọn vẹn theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
Có thể nói rằng: Tư tưởng thần học của Phao-lô là tư tưởng thần học của Cơ Đốc Giaó.
                                                                                                                  ( còn tiếp)

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

Ngày ấy tôi tin- Lời chứng

Ngày ấy tôi tin?

Trong đời người sinh ra, lớn lên, thụ hưởng, trưởng thành và cuối cùng là đúc kết: Được mất, nên, hư, thịnh, suy...Con người hòa nhập trong cuộc sống, đời người gặp nhiều cơ hội, mỗi cơ hội đều tạo nên cho con người một sự nghiệp tốt đẹp nếu biết nhận nó như một dấu ấn của sự chuyển vận.
Con đường mà tôi đi như mọi thanh niên khác vào đời, cũng công danh và sự nghiệp. 
Có một ngày kia tôi nhìn lên bức tường bằng sơn trắng dòng chữ: Ta là đường đi, chân lý và sự sống. ( Giăng 14:6a). Tôi tò mò câu nói nổi tiếng đó, cho đến nay tôi đi trên con đường mà Người phát ngôn đó đã đi gần như tôi thầm cảm phục về lẽ thật đó. Chúa Jêsus Ngài đã đến thế gian để cứu nhân loại-Ngài là cứu Chúa của nhân loại. Ba mươi ba năm Ngài sống trên đất, Chúa Jêsus đã đem niềm vui và mọi phước hạnh đến cho bất kỳ ai mà Ngài gặp. Lần cuối cùng tử nạn trên thập tự giá ở đồi Gô-gô-tha mà Chúa Jêsus cũng không từ chối lời cầu xin của kẻ cướp" Thật, Ta bảo con, hôm nay con sẽ được ở với Ta trong Pa-ra-đi"
                                                                                                     ( Lu-ca 23:43).
Tôi gặp Chúa Jêsus và tôi đã đọc Kinh Thánh.
Cuốn Kinh Thánh đã soi dẫn tôi từng bước vào đời và vào Vương quốc của Ngài. 
                             " Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi.
                               Là ánh sáng của đường lối tôi" 
                                                       ( Thi Thiên 119:105)
Hôm qua làm chứng cho một bệnh nhân, sau khi kết thúc câu chuyện ra về, anh hỏi tôi: Nếu tôi tin Chúa thì không khó gì, nhưng bảo tôi đừng cúng giỗ và đừng ăn đồ cúng giỗ thì thật là khó lắm cho tôi vì tôi là con cả trong một gia đình đông anh chị em.
Sau đó, tôi có giải thích cho anh và anh rất thỏa lòng.
Sở dĩ, Tin Lành không được đến một cách mạnh mẽ trên đồng bào Việt Nam chúng ta đó là rào cản về: Phong tục, tập quán, thói quen về quan điểm tâm linh liên quan đến tín ngưỡng và hình tượng. Cái điều mất mát đó, rất nhỏ so với cái ân điển mà Đức Chúa Trời ban cho con người khi tiếp nhận Ngài làm cứu Chúa cho đời mình. 
Theo đạo Tin Lành bỏ ông bỏ bà, bất hiếu v.v đó là câu thường gặp mà người Việt hay truyền cho nhau. 
Bây giờ, trong ánh sáng của Chúa, tôi tạ ơn Ngài vì ngày ấy Ngài đã dùng các anh chị em đầy ơn đã giúp tôi tiếp nhân Ngài.
Tôi gặp Chúa và nhận được cuốn Kinh Thánh là cơ hội lớn nhất và có ý nghĩa sâu xa nhất trong cuộc đời mình.
                                                                                                     LÊ VINH THÀNH

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

Du Lịch Đà Lạt - Ký sự.

Du Lịch Đà Lạt.

Nắng nóng tháng tư-Sàigòn không chịu nổi, mặc dù nơi tôi ở quanh năm có gió.
Được bao bọc bởi dòng sông Sàigòn- bán đảo Thanh Đa -Bình Qưới luôn cho ta một độ ẩm và độ thoáng dễ chịu. Thế nhưng, những ngày tháng tư -2013 khác hơn mọi năm. Hiệu ứng của biến đổi khí hậu, đã tạo nên một sự khó chịu cho môi trường sống: Con người, cây cối và vật nuôi.
Qua một con phà đã cũ vào một buổi chiều tan giờ công sở. Mũi phà gán vào bờ bệ kê sẳn trên bờ, chiếc ống nhả khói đen sịt sau một cái ịch dừng lại của phà. Làn khói đen kia dần dà tan biến và chúng góp phần vào trong sự tương ứng và tương đồng của hàng vạn khói bụi công nghiệp khác, nhả ra từ vô số  máy móc của đủ loại nghành nghề do con người tạo ra. Nhìn xuống dòng sông nước đen ngòm, vì chúng đã nhận biết bao nhiêu loại nước thải từ dân dụng đến công nghiệp. Môi trường nước và môi trường không khí đã bị ô nhiễm bởi sự vô tư, vô tình của con người tạo nên. Và con người cũng từ đó phải trả giá cho sự bất cẩn của mình. Đang suy nghĩ về môi trường, từ trong túi quần chiếc điện thoại reo và rung. Một người bạn học thời trung tiểu học từ Tân Phú gọi đến. Dừng lại trên chiếc xe bên lề đường, tôi trả lời và tán gẫu vài câu. Khi kể về thằng bạn kia giàu lên nhờ kinh doanh hóa chất, sẳn những ý tưởng đó, tôi nói rằng: " Ừ thì nó giàu lên tỉ lệ thuận với số người bị ung thư trong các bệnh viện". Con người đã lạm dụng chất hóa học mà gần như bây giờ tìm bất kỳ một loại thức ăn hay vật dụng gì mà không có hóa chất người ta gọi là: "Sạch". Thức ăn sạch, nước sạch,... Bất chợt tôi lại suy gẫm về câu Kinh Thánh trong sách Giê-rê-mi:
" Lòng người ta là dối trá hơn muôn vật,
Và rất là xấu xa.
Ai có thể biết được" ( Giê-rê-mi 17:9).
Khi bày một đĩa thức ăn ngon lên cho quý khách đến quán mình, chắc người chủ thừa biết thức ăn kia thuộc nhóm nào? sạch hay không sạch? Thế nhưng đã có nhiều lần nhân viên nhà nước đã từng khui những thùng xốp chứa hàng tấn những tạng phủ, xương thịt động vật đã bị thối rửa. Hơn ai hết những người phân phối hàng hóa đã thừa biết hàng hóa đã hết hạng sử dụng đã được sửa lại thời hạn.Các nhà sản xuất đã suy nghĩ gì về nguyên liệu đầu vào, có thử đặt một lợi ích sức khỏe lên trên mục tiêu lợi nhuận. Hàng hóa là sản phẩm do con người tạo ra, nó tốt hay xấu từ lương tâm con người tự vấn lấy. Nhưng dẫu nó có xấu vẫn còn tốt hơn lòng con người tạo ra chúng. " Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra" ( Châm ngôn). 
Rời Sàigòn lúc chín giờ sáng trên một chiếc xe bụi lên Đà Lạt, tôi không chọn xe máy lạnh mà chọn xe 16 chỗ ngồi chạy để đón gió tự nhiên. Chiếc xe rời bánh và đón khách dọc đường, chúng bỏ tôi tại Đức Trọng và chuyển qua xe khác để về Đà Lạt. Anh tài xế sợ tôi bực mình nên thường động viên an ủi, tôi vui vẻ và nói với anh rằng: ít khi tôi đi xe " bụi" hôm nay tôi rảnh đưa gia đình đi chơi vài hôm tôi muốn tìm lại cái cảm giác của những năm trong thập niên 80. Sang chiếc xe khác chúng chất đầy những mít và sầu riêng, tôi lại được dịp thưởng thức cái mùi tự nhiên từ trong cảnh thật. Dọc đường hình ảnh của cây cối, cảnh vật và những người rao bán dọc theo các nơi xe dừng lại, tôi bất giác hồi tưởng lại năm đầu tiên 1986 tôi rời Quảng Ngãi vào Sàigòn, hình ảnh màu đất đỏ, rừng cao su, trái sầu riêng, chơm chơm lại hiện  ra trong trí nhớ của tôi.
Hình ảnh miền Nam thân yêu của tôi ngày ấy, miền đất đã mở tấm lòng ra đón nhận một thanh niên miền trung vào đây lập nghiệp.
Đang miên man về những suy nghĩ trước mắt hiện ra cho tôi một ngọn đèo, anh tài xế bảo rằng: Qua khỏi ngọn đèo nầy là vào Thành Phố Đà Lạt. Gió mát và khí trời dịu lạnh. Tôi đã bắt đầu hưởng khí hậu Đà Lạt thật rồi. Đà lạt kỳ nầy không lạnh ( 9/4/2013 ) , ban đêm ngủ mở cửa chỉ mặc áo mỏng, tôí dạo phố chỉ mặc quần áo bình thường không cần phải mặc đồ ấm. 
Hồ Xuân Hương  hiện ra nằm giữa trung tâm của thành phố. Đức Chúa Trời đã tạo một cảnh Hồ nên thơ và giàu tưởng tượng. Hồ của tình yêu và thi ca. Dọc bên hai bờ Hồ lúc nào cũng có người đi tản bộ, nhất là sáng sớm và chiều tối. Tôi không bỏ lỡ cơ hội hít gió Đà Lạt và đi bộ cho khỏe đôi chân. Trời lạnh về chiều cũng là lúc những người bán lẽ dọn cho mình một nồi lửa than để bán bánh tráng nướng mỡ hành, trứng gà, bắp, khoai lang. Trà nóng thường được các nhân viên bán hàng chào mời, nhất là trà Atisô vì xứ sở của loại thực phẩm nầy, kèm theo với các loại mứt nhất là mứt dâu, mứt hồng, mứt trần bì làm từ vỏ quýt. Chúng đã bỏ chất bảo quản không còn tự nhiên.



Buổi tối dạo quanh chợ Đà Lạt có các món ăn dân dã cháo gà và bún riêu. Hai thứ thức ăn phù hợp với khẩu vị người Việt và với khí trời lạnh của Đà Lạt. Tôi ghé mắt để nhìn một số họa sĩ phát thảo nhanh những bức ký họa trên giấy và trên gỗ.
Sáng hôm sau chúng tôi đến vườn hoa thành phố Đà Lạt, bầu trời xanh pha ánh hồng cùng với hoa tạo nên một phong cảnh thật nên thơ và giàu sức sáng tạo, không bỏ mất thời cơ tôi  đã chụp rất nhiều bức hình kỷ niệm. Có lẽ, ít có khi nào tôi lại dễ chịu như lúc nầy, vì cùng đi với mình có vợ và cô con gái yêu. Mấy lần đi du lịch tôi thường đi với vợ và bạn bè, còn con gái thì bân học. Lần nầy, tôi thoải mái thả hồn để tận hưởng sự an lành của thiên nhiên và môi trường.


Chúng tôi ghé Đồi Thông Hai Mộ vào một buổi chiều trên một chiếc xe hai bánh của hãng Yamaha mà bà chủ khách sạn cho chúng tôi thuê. Phải nói thật một điều Đà Lạt đúng là thành phố du lịch, dân Đà Lạt thân thiện, trong những ngày ở Đà Lạt tôi thường tấp vào để hỏi đường, người nào cũng đón tiếp và chỉ dẫn một cách nhẹ nhàng, chi tiết. Hai lần xệp lốp xe hai lần bơm ở hai điểm khác nhau tôi đều được trả lời: Dạ, không lấy tiền. Những chi tiết thân thiện đó đã giúp tôi muốn nhiều lần ghé Đà Lạt.
Một buổi sáng của ngày thứ ba trong chuyến chúng tôi ghé Thác Cam Ly, từ đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa đến thác Cam Ly chúng tôi chỉ chạy xe có 15 phút. Thác Cam Ly mùa nầy ít nước nên những tảng đá bạc nhô ra nhiều hơn. Các nhà đầu tư đang sửa soạn một số công trình phụ nhằm tôn tạo vẻ đẹp của Thác để đón Lễ 30/4 và 1/5.
Vợ và con gái của tôi có dịp lên Đà Lạt nên được những người ở đây cho mướn những chiếc áo để giả cô gái Nhật, mặc dù vợ tôi là cô gái Hoa và con tôi là cô gái Việt. Chắc là hay dùng đồ Nhật vì chúng bền và đẹpnên có cảm tình với cô gái Nhật.( còn nữa)







Ngôi Trường Xưa - Tùy bút

Ngôi trường xưa.

Trường được xây dựng năm 1982, chúng tôi khóa học (1982-1985) là lứa học sinh được học trong ngôi trường mới. Trường được xây dựng bên triền núi, phía trước cổng trường là quốc lộ I. Trường quanh năm mát dịu, vì trước mặt trường là một cánh đồng lúa và xa hơn một chút là biển.
Tuổi thơ và thời trung học chúng tôi được hấp thụ một môi trường thiên nhiên tương đối an bình. Biển, nơi ấy cho chúng tôi những thức ăn tươi và đầy bổ dưỡng. Dân chài thời ấy chỉ đi biển gần bờ. Biển, cho chúng tôi có thể chọn nhiều bãi tắm theo ý thích của mình. Biển, ban đêm cho chúng tôi đốt những ngọn đuốt bằng vỏ xe phế thải để đuổi còng.
Sông Vệ, giòng sông trong lành quanh năm và bãi cát khi bồi khi lỡ. Giòng sông cho chúng tôi tắm vào những buổi trưa hè, cho chúng tôi nhìn những con đập ngăn dòng nước mặn, sông cho những quả dưa hấu đỏ mọng trồng bên bãi cát. Sông có những lúc giận hờn, nhất là mùa đông, những cơn lũ lụt trào dâng nước từ thượng nguồn, mang theo những thân cây to đùng từ trên núi trôi dạt xuống.
Núi, ngọn núi Đá Bạc vừa đẹp vừa có ích. Ở đó dân quanh vùng khai thác đá để xây nhà và trồng khoai lang. Khoai lang là một thức ăn góp phần nuôi sống dân quanh vùng trong những năm tháng đất nước khó khăn.
Lúa là cây lương thực chính của Mộ Đức. Cánh đồng cho chúng tôi những vẻ đẹp khác nhau của nó. Mùa xuân lúa xanh thời con gái, đứng giữa cánh đồng gió biển hòa với nước đồng cho chúng ta thưởng thức sự mát mẽ lạ thường. Lúa khi chín vàng và mùa gặt...
Có lẽ, chính vì vẻ đẹp của thiên nhiên từ quê hương mang lại, mà bạn bè chúng tôi rất nhiều bạn biết làm thơ, thích thơ và yêu thơ.
Ngôi trường trung học đã đưa chúng tôi vào đời đầy vẻ tự tin, vì ở đó chứa đựng tình yêu, tình Thầy và tình bạn. Ở đó, với dung lượng khiêm tốn của kiến thức và tri thức, nhưng nó đã định hình cho ý nghĩa một đời người, còn ở phía trước với những trăn trở về thân phận con người, quê hương, đất nước.
Chúng tôi thì đi xa, nhưng những người Thầy, Cô giáo yêu nghề, yêu người thì bám lại. Ngôi trường và Thầy Cô vẫn cứ ở mãi trong ký ức của học trò.
Mỗi lần nghĩ về mái trường là mỗi lần nghĩ và nhớ về Thầy Cô!

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Sinh nhật Mẹ tôi - Nhật ký

NGÀY SINH NHẬT MẸ TÔI.

Sáng Chủ Nhật ngày 7/4/2013 như thường lệ, tôi phải dậy sớm hơn, cầu nguyện tương giao với Chúa, đi ăn sáng và sửa soạn cho một ngày mới: Ngày Chủ Nhật.
Vợ tôi đã chuẩn bị sẵn một phần quà, để tôi thay mặt Hội Thánh tặng quà cho Mẹ tôi nhân ngày Sinh Nhật. Mẹ tôi không nhớ mình sinh ra ngày nào, chỉ biết rằng sinh ra tháng Tư - năm 1930



Hội Thánh  tặng quà Sinh Nhật cho Anh Chị Em vào mỗi sáng Chủ Nhật trong tháng. Chúng tôi dành cho Mẹ  một sự bất ngờ nên sáng nay Mẹ tôi không sửa soạn quần áo đẹp. Mẹ tôi sinh ra ở An Lão, Bồng Sơn, Tỉnh Bình Định. Mẹ tôi một người Vợ tuyệt vời của Ba tôi, một người Mẹ đáng Kính yêu của chúng tôi và là Bà nội, Bà ngoại đáng tự hào của đám cháu.Người Mẹ đã tảo tần sớm hôm lo cho chúng tôi cái ăn, cái mặt, cái chữ. 
Từ khi nhận được sự cứu rỗi Mẹ tôi đã dành nhiều giờ cầu nguyện cho chúng tôi. 
Chúng tôi theo Đạo Tin Lành Chúa dạy chúng tôi phải hiếu kính Cha Mẹ. chúng tôi ra sức lo cho Cha Mẹ Anh Chị Em và mọi người thân khi còn sống, quan tâm đến ngày Sinh Nhật. 
Người Việt Nam có câu:
" Mẹ già ở túp lều tranh, 
sớm thăm tối viếng mới đành dạ con"( Ca dao). 
Cha Mẹ tuổi già thích và vui khi con cháu thường xuyên thăm viếng và chăm sóc. Chẳng thế mà Chúa còn hứa cho chúng tôi sẽ ở trong Vương Quốc Đức Chúa Trời. 
Chúng tôi cả gia đình tin Chúa, sinh hoạt bên nhau, nên cũng thường xuyên gần Mẹ.
Nụ cười tự nhiên với niềm vui trong ngày Sinh Nhật, Mẹ tôi đã trở nên cao quý  trong lòng chúng tôi. 
                                                                                                          MS LÊ VINH THÀNH