Chúa Jêsus phán" Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người" ( Mác 16:15)
Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013
THƠ TÂM LINH.
Sáng nay Chúa đánh thức dậy sớm cầu nguyện và đọc Kinh Thánh
suy gẫm trong Mác 15:21-41, Đức Chúa Giê-xu bị đóng đinh trên cây thập tự. Cảm
động và sáng tác một bài thơ:
( Chia sẻ Chủ Nhật 18/8/2013 tại Hội Thánh Báp-Tít Độc Lập Việt Nam)
Kinh thánh:
Sáu
ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Chúa Jêsus đến làng Bê-tha-ni là nơi ở của
La--xa-rơ, người mà Ngài đã khiến từ cõi chết sống lại. Họ dọn tiệc đãi Ngài
tại đó. Ma-thê phục vụ, còn La-xa-rơ là một trong số những người ngồi cùng bàn
với Ngài. Ma-ri lấy một cân dầu cam tùng nguyên chất rất quý giá xức chân Đức
Chúa Jêsus, rồi dùng tóc mình lau chân Ngài. Mùi dầu thơm tỏa khắp nhà. Nhưng
một trong các môn đồ của Đức Chúa Jêsus là Giu-đa-ích-ca-ri-ốt, kẻ sau nầy phản
Ngài, nói rằng: “ Sao không bán dầu thơm nầy lấy ba trăm đơ-ni-ê để cho người
nghèo? ”Anh ta nói vậy không phải vì quan tâm đến người nghèo, nhưng vì vốn là
một tên trộm cướp, lại giữ túi tiền, nên anh ta thường lấy trộm tiền mà người
ta bỏ vào đó. Đức Chúa Jêsus bảo: “ Hãy để cô ấy yên, vì cô ấy đã để dành dầu
thơm nầy cho ngày chôn cất Ta. Các con luôn có người nghèo ở với mình, nhưng
các con không có Ta mãi đâu.”( Giăng 12:1-8 ).
Bài giảng:
I. Bối cảnh câu chuyện:
Trong thời
kỳ Cựu Ứơc Đức Chúa Trời bảo dân Y-sơ-ra-ên mỗi nhà giết con chiên đực hoặc con dê đực một năm tuổi,
không tì vết lấy huyết bôi lên hai thanh dọc và thanh ngang cửa ra vào của nhà
nào ăn thịt con chiên đó. Đêm đó, Chúa sẽ đi khắp xứ Ai-cập hành hại con đầu
lòng của Ai-cập kể cả súc vật. Khi thấy huyết bôi lên cửa của nhà nào, Chúa sẽ
vượt qua và sẽ không có tai nạn nào giáng xuống tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên,
để họ rời khỏi kiếp sống nô lệ ở Ai-cập mà tiến vào
chiếm lĩnh vùng Đất Hứa. Từ đó, về sau hằng năm dân Do-thái tổ chức Lễ Vượt Qua
để tưởng nhớ Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã giải cứu họ ( Xuất 12:1-28).
Sự
kiện trên là hình bóng về sự chuộc tội của Đức Chúa Jêsus. Chúa Jêsus là “Chiên Con của Đức Chúa Trời” ( Giăng 1:29)
đến thế gian bị giết bằng cách đóng đinh Ngài trên cây thập tự giá. Huyết vô
tội của Ngài đổ ra để gánh tội lỗi của nhân loại, nếu ai tin Ngài thì sẽ được
tha thứ tội lỗi.
- Làng Bê-tha-ni: Cách thành Giê-ru-sa-lem
khoảng ba ký-lô-mét ( Giăng 11:18). Nơi đây Chúa Jêsus đã tạo mối quan hệ tốt
với một số gia đình. Chúa đã dạy Đạo cho Ma-ri và Ma-thê. Chúa yêu thương một
số người và gọi họ là “ bạn của chúng ta” ( Giăng 11:11).Chúa chữa bệnh phong
hủi cho Si-môn. Chúa làm cho La-xa-rơ sống lại sau khi đã chết bốn ngày. Vì
vậy, các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si
họp Hội Đồng Công luận để lập âm mưu giết Ngài, vì sợ dân Do-thái bỏ họ
theo Ngài, làm ảnh hưởng tiêu cực đến vị trí và quyền lợi của họ.
- Câu chuyện diễn ra trong một bữa tiệc do
những người yêu mến Chúa ở làng Bê-tha-ni thết đãi Ngài để tỏ lòng cảm ơn Chúa đã cứu chữa cho họ.
II. Nội dung câu chuyện
-La-xa-rơ là người
Chúa yêu thương, Chúa nói với các môn đồ:”La-xa-rơ bạn của chúng ta…” . Người đã chết bốn ngày
được Chúa cứu sống, đang ngồi dự tiệc với Ngài., là anh trai của Ma-thê và Ma-ri. Hai người phụ nữ
được ký thuật trong phúc-âm Lu-ca 10:38-42.
-Ma-ri là một phụ nữ
sống nội tâm, từ tốn. Khi Chúa đến nhà, lúc đó, Ma-thê thì ra tiếp đón Chúa Jêsus
và bận rộn với việc phục vụ. Còn Ma-ri thì ở trong nhà, nhưng khi Chúa Jêsus
vào nhà thì Ma-ri đến ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe Lời Ngài. Theo Chúa thì
Ma-thê lo lắng và bối rối nhiều việc, còn Ma-ri đã chọn lấy phần tốt, là phần
không ai đoạt lấy của nàng được. Trong Giăng 11: 1-45, khi Chúa Jêsus đến để
cứu La-xa-rơ, Ma-thê ra đón Chúa, lúc ấy Ma-ri ở trong nhà; Nhưng khi Chúa gọi
thì Ma-ri bước đến phục dưới chân Ngài và nói: “ Thưa Chúa, nếu có Chúa ở đây
thì anh con không chết” ( Giăng 11:32).
Ma-ri mau nghe, chậm nói, tư tưởng tập trung, biết nắm
lấy cơ hội.
Từ chỗ lĩnh hội tốt, thông suốt chương trình cứu rỗi của
Chúa, khi hành động Ma-ri đã chọn một món quà tốt nhất, đó là một cân dầu cam tùng
nguyên chất. Một loại hương liệu quý giá xức chân Đức Chúa Jêsus và dùng tóc mình
lau chân Ngài. Đôi chân là nơi thấp nhất trong thân thể của Chúa Jêsus, nơi đó
thường dính bụi, nhưng lại là nơi có giá trị bậc nhất đối với Ma-ri. Vì tại đó
Ma-ri đã thấy mình chỉ đủ ngồi dưới bệ
chân của Ngài. Mái tóc của Ma-ri là nơi tôn vinh vẻ đẹp và sự quý trọng của con
người, nhưng Ma-ri đã thấy sự quý trọng dưới đôi chân của Chúa Jêsus hơn vinh
quang của mình. Sự yêu thương của Chúa Jêsus dành cho gia đình Ma-ri vượt trên
tất cả những gì Ma-ri có về vật chất cũng như tinh thần và tâm linh để trả ơn
cho Chúa.Chúa Jêsus đã giảng về Tin Lành
cho Ma-ri, Chúa Jêsus đã cứu sống người anh trai của mình là La-xa-rơ, sắp
nữa đây Chúa Jêsus sẽ chết để chuộc tôi cho Ma-ri. Ma-ri đã dùng dầu cam tùng
để ướp xác Chúa Jêsus, Ma-ri đã dâng hiến nhưng cô không nói về giá trị thật
của cân dầu cam tùng, cô không tiếc khi
cô dâng hiến cho Chúa, cô không quan tâm đến những người chung quanh suy nghĩ
gì về hành động của mình. Vượt lên trên điểm cao nhất là sự tỏ lòng biết ơn
Chúa và dâng hiến những gì tốt nhất cho Ngài. Viết đến đây tôi nhớ đến lời
một bài hát từ trái tim của một cơ đốc nhân, một nhạc sĩ: “ Biết lấy gì
cảm mến, biết lấy chi báo đền…”. Ma-ri đã dâng hiến cho Chúa tất cả những gì
mình có với một trái tim tự nhiên từ đáy lòng. Mặc cho những người chung quanh
suy nghĩ gì về việc mình làm. Ma-ri đã trả lời một đáp số đúng trong bài toán
cuộc đời về tình nghĩa Thầy –trò, món quà hiến dâng cho Chúa đã được Chúa Jêsus
chấp nhận.
Số dầu trên ban đầu Ma-ri có ý định để dành sử
dụng cho riêng mình. Từ khi được dạy dỗ
Ma-ri đã thay đổi mục đích, dành lại cho
ngày ướp xác Chúa Jêsus. Đức Chúa Jêsus bảo:
“ Hãy để cô ấy yên, vì cô ấy đã để dành dầu thơm nầy cho ngày chôn cất Ta. Các
con luôn có người nghèo ở với mình, nhưng các con không có Ta mãi đâu.
( Giăng 12:1-8 )
Định tính giá trị của cân dầu cam tùng, ai
tính chính xác cho bằng kẻ yêu tiền:
Giu-đa - ích-ca-ri-ốt. Hắn cho biết cân dầu cam tùng tương đương ba trăm đơ-ni-ê. Theo chúng ta
biết một ngày công thời bấy giờ được trả một đơ-ni-ê ( Mat 20:2). Số tiền đó
tương đương một người làm việc gần một năm.
Ngược
lại với Ma-ri, Giu-đa -ích-ca-ri-ốt là
một môn đồ của Chúa, đã đi với Chúa nhiều ngày, được Chúa dạy dỗ mọi điều,
chứng kiến các phép lạ Chúa Jêsus đã làm. Nhưng những gì Lời Chúa dạy không tồn
tại trong Giu-đa –ích-ca-ri-ốt. Vì hắn là kẻ yêu tiền, Phao-lô có viết:“ Vì
lòng tham tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác, một số người vì đeo đuổi nó mà
lìa bỏ đức tin, tự chuốt lấy nhiều nổi đau nhức nhối” ( I Ti-mô-thê 6:10).
Giăng viết rất rõ về Giu-đa-ích-ca-ri-ốt: “Nhưng một trong các môn đồ của Đức
Chúa Jêsus là Giu-đa-ích-ca-ri-ốt, kẻ sau nầy phản Ngài, nói rằng: “ Sao không
bán dầu thơm nầy lấy ba trăm đơ-ni-ê để cho người nghèo? ”Anh ta nói vậy không
phải vì quan tâm đến người nghèo, nhưng vì vốn là một tên trộm cướp, lại giữ
túi tiền, nên anh ta thường lấy trộm tiền mà người ta bỏ vào đó”. Giu-đa-ích
–ca-ri-ốt theo Chúa, nhưng ông không làm theo Lời Chúa dạy; Hành động theo suy
nghĩ của mình.
III. Bài học dạy dỗ:
-Ma-ri đã biểu hiện
một niềm tin cơ đốc đúng đắn về sự học tập chăm chú, lắng nghe và nắm hiểu thấu
suốt chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
-Từ sự hiểu biết trọn
vẹn đem đến cho Ma-ri có một đức tin
tốt.
-Qua hai điều nói trên cho Ma-ri một tâm tình hiến
dâng đúng thời điểm, đẹp lòng Chúa.
-Những gì chúng ta có
hãy tiết kiệm, để dành khi cần thiết hãy góp phần xây dựng cho công việc
Chúa, làm vinh hiển Chúa.
( Chủ Nhật, ngày 11 tháng 8 năm 2013 tại HT BT
ĐLVN)
Kinh thánh:
“Khi ấy, có một luật gia đứng dậy hỏi để thử Đức
Chúa Jêsus rằng: “ Thưa Thầy, tôi phải làm gì để hưởng sự sống đời đời ?”Ngài
đáp: “ Trong luật pháp có chép điều gì? Người đọc và hiểu thế nào? Người ấy
thưa: “ Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết tâm trí mà kính mến
Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; Và yêu thương người lân cận như chính mình”. Đức
Chúa Jêsus phán: “ Ngươi đáp phải lắm. Hãy làm điều đó thì ngươi sẽ sống”.
Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ mình là công chính nên
thưa với Đức Chúa Jêsus: “ Ai là người lân cận tôi? ” Đức Chúa Jêsus đáp: “ Có
một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô rơi vào tay bọn cướp.
Chúng lột hết quần áo và đánh đập rồi bỏ đi, để mặc người đó dở sống, dở chết.
Bấy giờ, có một thầy tế lễ tình cờ đi xuống đường đó, thấy nạn nhân thì đi
tránh qua bên kia đường. Tương tự như thế, một người Lê-vi cũng đến nơi, thấy
rồi cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần
thấy nạn nhân thì động lòng thương xót liền áp lại, lấy dầu và rượu xức vào vết
thương, băng bó lại, rồi đỡ nạn nhân lên con vật của mình và đưa đến quán trọ
để săn sóc. Ngày hôm sau, ông lấy hai đơ
–ni-ê đưa cho chủ quán rồi nói: “ Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, sau
khi trở về tôi sẽ hoàn lại. Theo ngươi nghĩ, trong ba người đó, ai là người lân
cận với kẻ bị cướp? Luật gia thưa: “ Ấy là người đã bày tỏ lòng thương xót đối
với nạn nhân”. Đức Chúa Jêsus phán: “ Hãy đi, làm theo như vậy”.( Lu-ca 10:25-37)
GIẢNG
LUẬN:
Đạo đức học tôn giáo có điểm tương đồng với đạo đức
học dân tộc. Có lẽ, từ những câu chuyện trong Kinh Thánh , đến những giáo lý
tôn giáo đã ảnh hưởng sâu rộng trên nhân loại; Từ lý thuyết cộng hưởng với thực
tế trải nghiệm, con người đã đưa ra những luận điểm luân lý dưới các hình thức
văn hóa truyền khẩu, nhằm gửi gắm một thông điệp trong đạo đức xã hội. Trong
câu chuyện ẩn dụ của Chúa Jêsus khắc họa hình ành về người Sa-ma-ri nhơn lành,
cho ta nhớ về tục ngữ của người Việt Nam:“ Thương người như thể thương
thân”. Dùng một ẩn dụ để trả lời một câu hỏi và đưa ra một ý tưởng sống, câu
chuyện đã có tác động rất lớn về sự kêu gọi tình thương, như vũ khí chính ngôn về
đạo đức hơn hai mươi thế kỷ trôi qua,
nhằm chống chia rẻ dân tộc, chống nạn phân biệt chủng tộc và kêu gọi tinh thần
giúp đỡ , tương thân, tương ái trong cộng đồng các dân tộc trên thế giới . Câu
chuyện trên từng là một nguồn cảm hứng của một số quốc gia đồng ý miễn thuế cho
ai đóng góp vào quỹ từ thiện ở các nhà thờ tôn giáo.
Chúng ta,
đi sâu vào tìm hiểu từng khía cạnh cụ thể của câu chuyện, nhằm tìm lấy một ánh
sáng lớn, như phần thưởng mà chúng ta đã nhận được từ Đức Chúa Trời. Từ đó,
chúng ta thêm tự hào vì chúng ta đang góp phần nhân rộng hình ảnh người Sa-ma-ri nhơn lành trong xã hội ngày nay.
Đọc Kinh Thánh bạn phải cần nhờ đến một vài tài liệu
viết về phong tục, tập quán và một số tên gọi để chỉ việc làm của người xưa
trong dân tộc Y-sơ-ra-ên. Cũng như địa lý, lịch sử thời bấy giờ.
Người
Sa-ma-ri được biết đến trong Kinh Thánh nhằm bày tỏ một chủng tộc hơn là một tổ
chức tôn giáo. Vua A-si-ri tiến chiếm cả xứ Pa-lét-tin và bao vây Sa-ma-ri
trong ba năm. Sau đó chiếm Sa-ma-ri và đày dân Y-sơ-ra-ên sang A-si-ri và cho
họ định cư tại Cha-la nước Mê-đi ( IICác Vua 17:5-6). Một số ít phụ nữ, trẻ em
và dân nghèo còn tồn tại trong xứ Thánh. Vua A-si-ri đem người từ Ba-bi-lôn,
Cu-tha, A-va, Ha-mát và Sê-phạt va-im đến định cư trong các thành của Sa-ma-ri
( IICác Vua 17:24). Các bộ tộc nầy mang theo tôn giáo của họ. Dân Y-sơ-ra-ên sót
lại xứ Sa-ma-ri kết hôn với họ và trở thành dân Sa-ma-ri với tôn giáo pha trộn. Khi những người Y-sơ-ra-ên
bị bắt đi làm phu tù trở về quê hương để xây dựng đền thờ Giê-ru-sa-lem và quốc
gia Do-thái, thì những người Do-thái ở Sa-ma-ri cũng tham gia, nhưng họ đã bị
người Do-thái phu tù phản đối và từ chối
sự đồng công của họ. Người Do-thái cho rằng người Sa-ma-ri không tinh sạch bởi
họ cưới gả và thờ thần của người ngoại quốc. Mâu thuẩn đó phát triển dần và kéo
dài trong suốt lịch sử thời Tân Ứơc. Những người Do-thái phu tù trên đường đi
từ Ga-li-lê xuống Giu-đa, họ cố tình đi qua sông Giô-đanh không đi qua Sa-ma-ri
vì sợ ô uế. Ma-na-se là con trai của thầy tế lễ thượng phẩm Do-thái, đã cưới
con gái của một nhân vật có quyền hành ở Sa-ma-ri và đi theo người Sa-ma-ri.
Người Sa-ma-ri đã xây dựng đền thờ của họ trên núi Ga-đi-xim thuộc xứ Sa-ma-ri.
Họ tôn quý năm cuốn sách Ngũ Kinh của Môi-se trong Cựu Ứơc. Có một số ít dân
Do-thái đã bỏ tôn giáo của họ để lên núi thờ thần của người Sa-ma-ri. Chúa
Jêsus và người đàn bà Sa-ma-ri được chép trong Tin Lành Giăng 4:12, Người đàn bà đã nói tổ phụ chúng
tôi là Gia-cốp. Tôn giáo khác biệt và sự hòa lẫn huyết thống của người Sa-ma-ri
vẫn tồn tại cho đến ngày nay, hiện họ vẫn còn thờ trên núi Ga-ri-xim.
Thầy Tế lễ lần đầu tiên được thiết lập trong sứ vụ lãnh
đạo của Môi-se. A-rôn, các con trai và hậu tự của ông được biệt riêng đời đời
trong chức tế lễ. Vì tính cha truyền con nối nên thầy tế lễ phải chứng minh
tính huyết thống trong dòng họ A-rôn. Công việc chính là trông nom lửa trên bàn
thờ của lễ thiêu luôn cháy. Họ có y phục riêng dành cho chức tế lễ. Đi chân
không khi vào đền thờ và khi vào đền tạm buộc họ phải rửa tay và chân. Họ được
hưởng 1/10 số tiền thuế được nộp cho người Lê-vi. Được nhận bánh trần thiết, và
thịt từ của lễ thiêu, lễ chay và của lễ đưa qua đưa lại. Họ cũng được hưởng một
phần trong các chiến lợi phẩm. Họ có trách nhiệm dạy luật pháp của Đức Chúa
Trời cho con cái của họ, đôi lúc tham gia như một tòa thượng thẩm trong các vụ
vụ tranh cãi. Trong xã hội họ tự hào là giai cấp lãnh đạo tôn giáo thánh thiện
nhất, đem tình thương Thiên Chúa vào trang bị cho nền pháp luật và đạo đức xã
hội. Họ đại diện cho dân sự trong các việc liên quan đến Đức Chúa Trời. Khi
không còn làm việc ở đền thờ, các thầy tế lễ hành đạo trong cương vị của một
giáo sư Kinh Luật ( II Sử 15:3).
Người Lê-vi
có nhiệm vụ chăm sóc tài sản của đền thờ, lần đầu tiên được xuất hiện trong sứ
vụ lãnh đạo của Môi-se. Họ có nhiệm vụ mang hòm giao ước và khí mạnh Thánh khi
người Y-sơ-ra-ên di chuyển. Người Lê-vi không được hưởng bất cứ điều gì trong
Đất Hứa. Nên họ không có tài sản và ruộng đất, ngược lại họ được ban 48 đồng cỏ
cho bầy súc vật, được cung cấp của lễ do dân chúng trả cho họ. Họ như lực lượng
bảo vệ của đền thờ và trung gian giữa dân sự với các thầy tế lễ. Họ phục vụ
trong tòa công luận, ban lễ tân, ban nhạc trong ca đoàn của đền thờ và một số
lễ quan trọng khác.
Luật gia là
người giải thích luật pháp ( Tít 3: 13), thường thì các thầy thông giáo giải
thích luật công còn luật gia thì phân tích luật tư. Trong câu chuyện nầy vị
luật gia hỏi để thử, và vị nầy đã giống như các các thầy thông giáo và người
Pha-ri-si cậy công bình riêng. Có linh tôn giáo không có sự liên hệ với Đức Chúa
Trời. Mục đích dùng luật pháp sở trường về sự hiểu biết của mình để tấn công
Chúa Jêsus. Luật gia đặt hai câu hỏi, làm gì để được sự sống đời đời? Và ai là
người lân cận tôi?
“Khi ấy, có một luật gia đứng dậy hỏi để thử Đức
Chúa Jêsus rằng: “ Thưa Thầy, tôi phải làm gì để hưởng sự sống đời đời ?”Ngài
đáp: “ Trong luật pháp có chép điều gì? Người đọc và hiểu thế nào? Người ấy
thưa: “ Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết tâm trí mà kính mến
Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; Và yêu thương người lân cận như chính mình”. Đức
Chúa Jêsus phán: “ Ngươi đáp phải lắm. Hãy làm điều đó thì ngươi sẽ sống”. (
Lu-ca 10: 25-28).
Tâm lý luật gia hỏi để thử - biểu hiện một thái độ
đạo đức giả và tỏ vẻ coi thường Chúa Jêsus. Chứ không phải hỏi để học. Câu hỏi
đặt cho chúng ta có sự liên tưởng trong câu chuyện người thanh niên giàu có hỏi
Chúa Jêsus trong Lu-ca 18: 18-30. Ở đây, Chúa Jêsus trả lời trong phong cách của
một Giáo Sư Nước Trời hỏi một người có am hiểu về luật pháp trong ý thức văn
tự. Trong luật pháp có chép điều gì? Ngươi đọc và hiểu thế nào?
Sau câu trả lời, Chúa Jêsus đáp: Ngươi đáp phải lắm.
Hãy làm điều đó thì ngươi sẽ sống.
Nghĩa là: Về mặt lý thuyết điều đó đúng và căn dặn:
Phải thể hiện bằng việc làm, bằng hành động. Cụ chế hóa luật lệ Nước Trời.
“ Nhưng ông
ấy muốn chứng tỏ mình là công chính nên thưa với Đức Chúa Jêsus: “ Ai là người
lân cận tôi? ” ( Lu-ca 10: 29).
Chúa Jêsus không trả lời trực tiếp, mà Ngài bày tỏ ý
tưởng bằng một ẩn dụ, để động não, suy nghĩ và tìm giải pháp để minh định câu
trả lời. Ai là người lận cận? Chúa Jesus đặt trọng tâm đối tượng chính là người
Sa-ma-ri. Cần phải sống và hành động như người Sa-ma-ri trong câu chuyện ẩn dụ.
Ở đây, bao quanh Chúa Jêsus là người Do-thái, những người đang để ý lắng nghe
từng Lời của Chúa. Ngài chọn chủ đề cần hòa hợp giữa các dân tộc, chính sự hòa
hợp mới tạo sức mạnh cộng đồng. Chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo. Người
Sa-ma-ri đã bị người Do-thái khinh miệt, tránh xa, bài xích. Thậm chí còn muốn
họ bị tuyệt chủng. Sự tồn tại của người Sa-ma-ri đã bị người Do-thái xem như
không có liên quan gì với họ.
Suốt 3 năm trong chức vụ truyền giáo Chúa Jêsus đã
bị người Pha-ri-si và các thầy thông giáo tố cáo và buộc tội Ngài gần gũi với
phường thâu thuế và những người tội lỗi. Trong ẩn dụ nầy Chúa Jêsus đã khẳng
định tại sao Ngài phải hành động như thế. “ Đức Chúa Jêusu đáp: “Người khỏe
mạnh không cần thầy thuốc đâu, nhưng là người đau ốm, Ta không đến để
gọi người công chính, nhưng gọi kẻ có tội ăn năn” ( Lu-ca 5: 31-32).
“Đức Chúa Jêsus đáp: “ Có một người từ thành
Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô rơi vào tay bọn cướp. Chúng lột hết quần áo
và đánh đập rồi bỏ đi, để mặc người đó dở sống, dở chết” ( Lu-ca 10: 30) Người
bị rơi vào tay bọn cướp là một người không được kể có tên tuổi, có họ hàng, có
địa vị, là ai, dân tộc nào… Là người đồng loại đang bị tổn thương về thể xác và
tâm linh. Là người dở sống, dở chết, họ đang bị khinh miệt, đang cần những sự
thương xót từ đồng loại. Họ đang cần sự an ủi, khích lệ, cứu vớt. Họ không cần
những lý thuyết thông tuệ của các lãnh tụ tôn giáo. Đoạn đường từ Giê-ru-sa-lem
đến thành Giê-ri-cô trong thực tế chỉ dài hơn 20 km nhưng rất nhiều bọn cướp
bóc.
“Bấy giờ, có một thầy tế lễ tình cờ đi xuống đường
đó, thấy nạn nhân thì đi tránh qua bên kia đường. Tương tự như thế, một người
Lê-vi cũng đến nơi, thấy rồi cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng có một người
Sa-ma-ri đi đường, đến gần thấy nạn nhân thì động lòng thương xót liền áp lại,
lấy dầu và rượu xức vào vết thương, băng bó lại, rồi đỡ nạn nhân lên con vật
của mình và đưa đến quán trọ để săn sóc. Ngày
hôm sau, ông lấy hai đơ –ni-ê đưa cho chủ quán rồi nói: “ Hãy săn sóc
người nầy, nếu tốn hơn nữa, sau khi trở về tôi sẽ hoàn lại. Theo ngươi nghĩ,
trong ba người đó, ai là người lân cận với kẻ bị cướp? Luật gia thưa: “ Ấy là
người đã bày tỏ lòng thương xót đối với nạn nhân”. Đức Chúa Jêsus phán: “ Hãy
đi, làm theo như vậy”( Lu-ca 10: 30-37).
Ba người cùng thấy một nạn nhân bị thương, cả ba đều
có công việc riêng tư của mình. Hai người thầy tế lễ và người Lê-vi đang nói về
đạo đức, là nhà hoạt động tôn giáo nhưng không hành động, họ sợ có liên quan rắc rối, và đó cũng không phải là
việc của họ, mặc dù họ đang rao giảng về đạo đức. Chúa Jesus đã từng quở họ:
Nói nhưng không làm. Người Sa-ma-ri bị
Do-thái khinh miệt kia, họ có lòng thương xót, dừng lại lấy dầu để xức nhằm
giảm đau và dùng rượu để sát trùng vết thương. Họ bỏ tiền ra, chấp nhận tốn kém
và nhờ người trong quán trọ săn sóc, hứa sẽ trở lại và thanh toán số tiền chi
phí trong việc săn sóc người bị thương.
Trong ẩn dụ trên những người Cơ đốc đầu tiên suy
nghĩ rằng: A-Đam chính là người đàn ông bị kẻ cướp đánh đập, cũng là loài người
đang bị sa ngã. Kẻ cướp chính là quyền lực tối tăm, sa tan. Giê-ru-sa-lem là
Thiên đàng, Giê-ri-cô là địa ngục. Thầy tế lễ, người Lê-vi là linh tôn giáo.
Quán trọ là Hội Thánh, Người Sa-ma-ri
nhơn lành là Chúa Jêsus đã bị người Do-thái tiêu diệt. Dầu là Lời của Chúa, có
tác dụng giảm nổi đau nhân loại, an ủi người bị tổn thương; Rượu là hành động đạo đức cụ thể và là đời sống của cơ đốc nhân trong Hội
Thánh.ngày nay. Quán trọ là Hội Thánh. Hội Thánh là nơi săn sóc người bị tổn thương. Hội Thánh là nơi Đức Chúa Jesus giao những người bị tổn thương để chúng ta dùng Lời Chúa chăm sóc họ và đời sống phước hành của chúng ta giúp đỡ họ xa rời lối sống thế gian. Hội
Thánh đã được Chúa ban phước và sẽ được trả thưởng khi Chúa Jêsus trở lại. Hình
ảnh của Người Sa-ma-ri nhơn lành là hình ảnh của Chúa Cứu Thế Jêsus. Và ngày
nay Chúa muốn mỗi Cơ đốc nhân là người Sa-ma-ri nhơn lành.
Cả hai câu hỏi Chúa Jêsus đều có kết luận: “Hãy đi,
làm theo như vậy”
Kết luận:
Ai cũng cần có tình yêu thương và sự giúp đỡ. Tình
yêu thương từ trái tim đến trái tim. Chúa muốn chúng ta yêu đồng loại như chính
trái tim mình. Ở đây, sự thương xót luôn đi kèm với sự tốn kém thời gian và
tiền bạc. Nhưng những gì tưởng như mất kia lại được chính Đức Chúa Trời ban
phước lại. Nếu mọi người làm theo Lời Chúa thì xã hội luôn tốt hơn. Sự ban cho
bao giờ cũng có phước hơn là nhận lãnh. Chung quanh chúng ta có rất nhiều người
đang bị dở sống dở chết về thuộc linh. Họ đang trên đường xuống địa ngục, nếu
chúng ta không đem Tin Lành cứu rỗi đến cho họ, thì thật là một điều đáng tiếc.
( Chia sẻ Chủ Nhật
ngày 28/7/2013 tại HT Báp-Tít Độc Lập Việt Nam).
“ Cả hội đồng đứng dậy giải Ngài đến trước Phi-lát. Họ bắt
đầu tố cáo Ngài rằng: “ Chúng tôi đã phát hiện người nầy xúi giục dân chúng nổi
loạn, ngăn cấm chúng tôi nộp thuế cho Sê-sa và xưng mình là Đấng Christ, là
Vua” ( Lu-ca 23:1-2).
1. Chúa Jêsus có ngăn cấm nộp
thuế cho Sê-sa ?
a. Đóng thuế cho đền thờ:
“ Khi đến thành Ca-bê-na-um, những người thu thuế đền thờ
đến hỏi Phi-e-rơ : “ Thầy các anh có nộp thuế không ?” Phi-e-rơ đáp: “ Có” Khi
Phi-e-rơ vào nhà Đức Chúa Jêsus hỏi người trước: “ Si-môn ơi, con nghĩ sao? Các vua thế gian
bắt ai làm sưu, đóng thuế? Các con trai mình hay người ngoài. Phi-e-rơ thưa: “
Người ngoài”. Ngài phán rằng: “ Vậy thì các con trai được miễn”. Nhưng để khỏi
tạo cớ vấp phạm cho họ, con hãy ra biển câu cá, bắt lấy con cá nào mắc câu đầu
tiên, mở miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc. Hãy lấy đồng bạc ấy đóng thuế cho
Ta với con” ( Ma-thi-ơ 17: 24-27).
b.Hoàn cảnh lịch sử thời Chúa Jêsus xuất hiện: ( Từ 63 TC và 600
SC)
Do-thái nằm dưới sự
cai trị của Đế Quốc La-mã. Đế quốc La-mã thực thi chính sách dùng người bản xứ
để cai trị người bản xứ. Do vậy, họ cử Antipater, người xứ Ê-đôm làm tổng trấn
toàn vùng. Sau đó, con trai của Antipater kế thừa và tự xưng là Hê-rốt Đại
Vương. Chính vị vua nầy đã ra lịnh giết tất cả các bé trai từ hai tuổi trở
xuống tại thành Bết-le-hem và các vùng phụ cận. ( Ma-thi-ơ 2:16). Hơn 30 năm
sau một người con trai của ông là Hê-rốt Antipas đã giết Giăng Báp-tít ( ( Mác 6:14-29).
Và chế giễu Chúa Jêsus ( Lu-ca 23:7-12). 14 năm sau cháu nội của
Hê-rốt Đại Vương là Hê-rốt Ac-rip-ba I
giết sứ đồ Gia-cơ ( Công 12:1-2), 16 năm sau nữa chắc nội của Hê-rốt Đại Vương
là Ac-rip-ba II đã xét xử Phao-lô ( Công
25:13-16).
c. Luận về thuế:
Dân chúng Do-thái thời ấy phải đóng thuế
cho hai quyền lực: Tôn giáo và chính quyền. Đóng thuế cho Đền thờ để nuôi sống
giai cấp tăng lữ và xây dựng-trùng tu đền thờ. Đóng thuế cho đế quốc La-mã để
nuôi chính quyền Hê-rốt và cơ quan
công quyền của đế quốc La-mã.
Thuế là gì trong định nghĩa ngày nay? Theo Wikipedia Thuế hay thu
ngân sách nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung
một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ Ngân sách nhà nước nhằm thỏa
mãn các nhu cầu của Nhà nước.
Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao
dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính
quyền, nhằm tái phân phối thu nhập,
hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đóng thuế vừa là quyền lợi được
thực thi trách nhiệm công dân đóng góp cho sự phát triển phồn vinh của đất
nước, vừa là nghĩa vụ phải thực hiện của mỗi công dân.
- Thuế Đền thờ:Thời ấy, nam giới trên 20 tuổi phải đóng thuế cho Đền
thờ, khoảng 1/2 Siếc-lơ Ga-li-lê (ngoại trừ phụ nữ, trẻ em và nô lệ được miễn) ( Xuất 30:13-14 ). Kể cả những người Do-thái sống ngoài lãnh thổ Pa-lét-tin. Lúc bấy giờ có nhiều loại tiền tệ lưu thông trên nền tài chính Do-thái. Nhưng việc đóng thuế cho Đền thờ phải bằng chính tiền Do-thái. Đóng các loại tiền khác xem như ô uế.
“ Si-môn ơi, con nghĩ sao? Các vua thế gian
bắt ai làm sưu, đóng thuế? Các con trai mình hay người ngoài. Phi-e-rơ
thưa: “
Người ngoài". Chúa đã nêu lên một tình nghĩa Phụ-Tử. Thiên Chúa không
đòi hỏi ở con mình.
Và đặc biệt các Rabi được miễn thuế. Như vậy, Chúa Jêsus
cũng là
Rabi –tức là Thầy dạy luật pháp Nước Trời. ( Giăng 18:20) Nhưng người Do-thái đã không thừa nhận vai trò Rabi của Chúa Jêsus.Cho nên họ đã nhận phần thuế của Ngài. Dân Do-thái trung tín trong việc nộp thuế cho Đền thờ, vì không nộp
thuế họ sợ gây cớ vấp phạm cho đồng bào vì chống lại luật tổ tiên và
sự cố tình ly khai Y-sơ-ra-ên.Ở một phương diện khác, đóng thuế cho đền thờ để cho người Do-thái giáo không chỉ trích người Cơ đốc giáo bỏ trách nhiệm trong tinh thần dân tộc. Về ý nghĩa,việc đóng thuế của Chúa Jêsus đã góp phần xây dựng đức tin đúng đắn cho Cơ đốc nhân ngày nay.
" Nhưng để khỏi
tạo cớ vấp phạm cho họ, con hãy ra biển câu cá, bắt lấy con cá nào mắc
câu đầu
tiên, mở miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc. Hãy lấy đồng bạc ấy đóng
thuế cho
Ta với con” ( Ma-thi-ơ 17: 27”.
Phi-e-rơ là ngư phủ, việc bắt cá không mấy khó khăn, Chúa Jêsus đã dùng sở trường của Phi-e-rơ để thực hiện một phép lạ. Cho Phi-e-rơ biết rằng Ngài có quyền năng. Trong thế quyền Ngài đủ tư cách để miễn thuế.Gửi thông điệp: Sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian.
Chúa Jêsus không chống lại việc đóng thuế cho đền thờ.
2. Chúa Jêsus có ngăn cấm dân Do-thái nộp thuế cho Sê-sa:
a. Kinh Thánh: “ 13 Sau
đó họ sai một số người Pha-ri-si và một số người của Hê-rốt đến gài bẫy để Ðức
Chúa Jêsus lỡ lời. 14 Họ đến
với Ngài và nói, “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và không
thiên vị ai, vì Thầy không cả nể ai, nhưng cứ theo chân lý dạy dỗ đường lối của
Ðức Chúa Trời. Có nên nộp thuế cho Sê-sa không?Chúng tôi nên nộp hay không nên nộp?”15 Nhưng khi thấy vẻ đạo đức giả của họ,
Ngài nói với họ, “Tại sao các ngươi muốn thử Ta? Hãy đem
cho Ta xem một đồng tiền.”16 Họ
đưa cho Ngài một đồng tiền. Ngài hỏi họ, “Hình ảnh và
danh hiệu nầy của ai?”Họ trả lời Ngài, “Của
Sê-sa.”17 Ðức Chúa Jêsus nói
với họ, “Hãy trả cho Sê-sa những gì của Sê-sa, và hãy
trả cho Ðức Chúa Trời những gì của Ðức Chúa Trời.” Họ đều sững sờ về câu trả lời của Ngài.
b. Hai nhóm khác biệt:
Những kẻ gài bẫy Chúa Jêsus đến từ hai nhóm khác biệt, họ giữ lấy
những niềm tin đối ngược nhau.
-Người Pharisi: Là một hội đoàn tôn giáo, quan tâm đến phong tục truyền thống cổ của người Do-thái. Là những nhà bảo thủ tôn giáo của thời
buổi ấy. Họ thiên về với luật pháp, trong đó họ tìm cách giữ lấy từng chữ của
Luật pháp Đức Chúa Trời sao cho thật trọn vẹn. Họ kiêu ngạo và cậy công bình
riêng. Họ không có mối liên hệ nào với Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus đã nhiều lần
quở trách họ.Quan điểm chính trị họ thuộc chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cam
chịu dưới sự cai trị của đế quốc La-mã để dễ bề hoạt động tôn giáo, nhưng cũng
rất muốn tìm cách thoát ra.
- Đảng Hêrốt là
một đảng chính trị giữa vòng những người Do thái, ủng hộ Vua Hêrốt. Họ là nhóm
hưởng lợi ích vì cớ sự chiếm đóng của người Lamã. La-mã cai quản
xứ sở của họ, dân chúng Do-thái được tự do
tôn giáo, chính đảng Hê-rốt được bảo hộ của đế quốc La-mã. Họ tìm cách đưa văn hóa La-mã vào Y-sơ-ra-ên, và chống đối người Do-thái chống nghịch đế quốc La-mã.
Hai nhóm nầy là hai cực đối lập, họ đến với nhau vì mục tiêu chung: Tìm cách giết Chúa Jêsus ( Mác 3:6).
Trong thế quyền Chúa Jêsus đi con đường không cùng với họ.
Không chủ trương bạo động. “…Ai cầm gươm thì sẽ chết vì gươm” ( Ma-thi-ơ 26:52).
Chúa Jêsus có mối quan hệ với Đức Chúa Trời, có mối quan hệ với người lân cận
theo tình yêu thương. Có hình thức tổ chức quản trị không phải bằng thống trị,
cai trị hay mệnh lệnh mà là đầy tớ cho anh em mình ( Ma-thi-ơ 20:26). Yêu thương kẻ thù nghịch, cầu nguyện cho kẻ bắt bớ. Trong số họ về sau bỏ quan điểm chính trị và tôn giáo của họ, đi theo đường hướng của Chúa Jêsus. Trong số
12 môn đồ của Chúa Jêsus có Si-môn Xê-lốt người Ca-na-an, là
một thành viên của đảng phái chính trị có lòng ái quốc cuồng nhiệt, tin
tưởng sự độc lập của Y-sơ-ra-ên và bất hợp tác với đế quốc La-mã. Chúa Jêsus
phục sinh đã “tái sinh” đời sống của ông, và sử dụng lòng nhiệt thành của ông
cho công việc Nước Trời.. Một nhân vật thứ hai là nhân viên thuế vụ Ma-thi-ơ
(Ma-thi-ơ 10:3). Dân Do-thái rất ghét các viên chức thuế vụ vì làm tay sai cho đế quốc La-mã. Ma-thi-ơ đã được Chúa Jêsus dạy dỗ đúng đắn trở thành môn đồ của Ngài.. Điều đó cho thấy đạo đức và quyền năng của Chúa Jêsus trong sứ
vụ rao giảng Tin Lành của Nước Trời đã vượt xa
tôn giáo và chính nghĩa của các đảng phái chính trị đương thời. Về sau Phao-lô cũng là một thành
viên tích cực của nhóm Pha-ri-si đã bị Chúa Jêsus phục sinh bắt phục, trở
thành một người học trò xuất sắc trong việc đem Tin Lành đến cho dân ngoại.
c. Vương Quốc Thiên Đàng:
" Họ đến
với Ngài và nói, “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và
không
thiên vị ai, vì Thầy không cả nể ai, nhưng cứ theo chân lý dạy dỗ đường
lối của
Ðức Chúa Trời. Có nên nộp thuế cho Sê-sa không?Chúng tôi nên nộp hay
không nên nộp?”15 Nhưng
khi thấy vẻ đạo đức giả của họ,
Ngài nói với họ, “Tại sao các ngươi muốn thử
Ta? Hãy đem
cho Ta xem một đồng tiền.”16 Họ
đưa
cho Ngài một đồng tiền. Ngài hỏi họ, “Hình ảnh
và
danh hiệu nầy của ai?”Họ trả lời
Ngài, “Của
Sê-sa.”17 Ðức Chúa Jêsus
nói
với họ, “Hãy trả cho Sê-sa những gì của Sê-sa,
và hãy
trả cho Ðức Chúa Trời những gì của Ðức Chúa Trời.” Họ đều sững sờ về câu trả lời của Ngài. Hình ảnh và danh hiệu trên đồng tiền thể hiện vương quốc trên đất của đế quốc La-mã. Một thế lực quyền bính của thế quyền. Nhưng đồng thời Chúa Jêsus cũng công bố một Vương Quyền với vị Vua Đời Đời, vị Vua không chỉ giới hạn của thời gian và không gian, mà là Đức Chúa Trời đáng tôn thờ.Ngài là Vua tạo ra loài người, đang dẫn dắt loài người và là Đấng tạo nên lịch sử của nhân loại. " Chính Ta là Đấng dùng quyền năng lớn lao và cánh tay giang ra mà tạo dựng trái đất, loài người và loài thú trên mặt đất và ban đất ấy cho ai tùy ý Ta" ( Giê-rê-mi 27:5). " Chính Ngài thay đổi thì giờ và mùa phế lập các vua" ( Đa-ni-ên 2:21a) 3. Kết luận: Chúa Jêsus không chống đối nộp
thuế cho đền thờ, nhà nước, mà còn công bố một nhà nước tồn tại trong sự thật, nhà nước
vượt trên thế quyền, thống trị thế quyền và vĩnh hằng: Tồn tại đời đời.Vương
Quốc của Đức Chúa Trời.
- Phao-lô còn gọi là sau -lơ, là một Sứ đồ cột trụ trong Hội Thánh đầu tiên, vị Sứ đồ của dân ngoại, một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển Cơ Đốc Gíao thời kỳ sơ khai.
- Phao-lô là người Do-thái, sinh tại Tạt-sơ( Tarsus), xứ Si-li-si (Cilicia)( Công vụ 9:11; 21:39; 22:3), một thành phố phía đông của biển Địa Trung Hải ( nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ), nhiều sử gia tiên phỏng Ông xuất hiện vào khoảng giữa năm thứ 5-10 sau Công nguyên.Phao-lô đã được trưởng dưỡng ở thành phố Giê-ru-sa-lem, được học với thầy Rabbi nổi tiếng đương thời là Ga-ma-li-ên. Ông được cắt bì ngày thứ 8, thuộc dòng dõi Y-sơ-ra-ên, bộ tộc Bên-gia-min, là người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ ( Phi-líp 3:5).Thuộc người Pha-ri-si . Khi chưa gặp Chúa Jêsus phục sinh, Ông là người theo Do-Thái-Giaó, thẳng tay bắt bớ và cố tiêu diệt Hội Thánh của Đức Chúa Trời, hăng say với các giáo lý-giáo luật truyền thống của tổ tiên ( Gal 1:13-14)
- Phao-lô nói tiếng Hi-lạp, ngôn ngữ phổ biến thời bấy giờ ( Công 21:37) và tiếng Hê-bơ-rơ của người Do-thái. Phao-lô có quốc tịch Rô-ma ( Công vụ 22:27-28), quyền nầy là một lợi thế đã được Sứ đồ Phao-lô sử dụng để tranh luận với phe đối lập nhằm bênh vực cho chức vụ và công việc truyền giáo của Phao-lô.(công vụ 16:37-38; 22:25-29; 23:27-28). - Không giống như mười hai vị Sứ đồ đầu tiên, được Chúa Jêsus kêu gọi và dạy dỗ, chứng kiến công việc truyền giảng và phép lạ Chúa Jêsus đã làm. Phao -lô nhiệt tình bắt bớ những người tin Chúa Jêsus vì Ông là người say mê truyền thống tổ tiên và là người theo Đạo Do-thái Giaó. Sự xuất hiện của Chúa Jêsus và công việc Chúa làm đã thay đổi rất nhiều qui cũ đã được định hình về mặt tôn giáo lúc bấy giờ. Số người nghèo khổ, bệnh tật, quỷ ám và nhóm người bị khinh bỉ được Chúa Jêsus tiếp cận và chữa lành. Các thầy thông giáo dòng Pha-ri-si, Sa-đu-sê bị Chúa Jêsus lên án. Ngài đã đến và truyền rao về Vương Quốc của Đức Chúa Trời, Ngài công bố Ngài là Con của Đức Chúa Trời...Trong cách nhìn của giới quý tộc, trí thức và tôn giáo đương thời, mà đại diện là phái Sa-đu-sê và dòng Pha-ri-si nhìn Jêsus như một người chống đối, làm loạn và dị giáo. Phao-lô là một thành viên trong nhóm có cách nhìn như vậy. Cậy sự khôn ngoan và hiểu biết của mình, Phao-lô cho rằng Chúa Jêsus bị hành hình trên thập tự giá là một sự rủa sả mà Đức Chúa Trời trừng phạt hơn là sự ban phước.
Ông đã tán thành việc một người theo Jêsus là Ê-tiên bị giết, Phao-lô tàn hại Hội Thánh, xông vào từng nhà bắt đàn ông lẫn đàn bà bỏ tù. Thậm chí xin thầy tế lễ thượng phẩm viết thư giới thiệu đến các nhà hội ở Đa-mách bắt trói những môn đồ và những người thuộc về Jêsus để giải về Jê-ru-sa-lem. Trên đường đi gần đến thành Đa-mách. Phao-lô đã bị ánh sáng từ trời chiếu lòa trên đôi mắt, ông té xuống và có tiếng phán: " Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ sao ngươi bắt bớ Ta? Ông thưa: " Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa Phán Ta chính là Jêsus mà ngươi đang bắt bớ " ( Công vụ 9:4-5). Câu hỏi của Chúa Jêsus: " Sao ngươi bắt bớ Ta" mà sau nầy trong các tác phẩm của Phao-lô đã làm nổi bật ý nghĩa của câu hỏi nầy. Như Đấng Christ là đầu Hội Thánh, Hội Thánh là thân thể Chúa. Hay là: " Anh em không biết rằng anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trong anh em sao, nếu người nào phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt người ấy, vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, và đền thờ ấy chính là anh em" ( ICô-rinh-tô 3:16-17)." - Chúa Jêsus đã làm cho mắt Phao-lô mù trong ba ngày, sau đó Ngài dùng môn đồ của Ngài là A-na-nia đến để đặt tay cầu nguyện và làm báp-têm cho Phao-lô. Sau đó, Phao-lô đã được sáng mắt, đầy dẫy Đức Thánh Linh và công bố Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, và mạnh mẽ biện luận Chúa Jêsus là Đấng Christ. - Phao-lô được kính trọng và yêu thương như một vị Thánh bởi các giáo hội trong Cơ Đốc Gíao: Công Gíao Rô-ma, Chính Thống Giaó Đông Phương, và các Giaó hội thuộc các hệ phái Tin Lành.
- Từ một người đang bắt bớ Hội Thánh, bảo vệ tính chính thống của Do Thái Giaó, sang rao giảng Đấng Christ là trung tâm của Đạo Chúa, và Ông đã đem kiến thức trong Kinh Thánh Cựu Ước để giải thích tính chính thống trong sự xuất hiện của Chúa Jêsus Christ. Phao-lô đã trở thành nhà cải cách cho cả Do-Thái-Giaó và Cơ Đốc Giaó. - Trong thư gửi cho các anh chị em ở Cô-rinh-tô, Phao -lô đã xác lập quan điểm thần học của mình: " Trong lúc người Do-thái đòi dấu lạ, người Hi-lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, thì chúng tôi rao giảng Đấng Christ bị đóng đinh vào thập tự giá, điều mà người Do-thái cho là sai lầm, còn dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những người được kêu gọi, cả Do-thái hay Hi-lạp thì Đấng Christ là quyền năng và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời" ( ICôr 1:22-24). - Phao-lô chịu ảnh hưởng của văn hóa Hi-lạp, và là người Do-thái thuộc dòng Pha-ri-si học với các Rabbi, Đức Chúa Trời đã chọn Phao-lô để xây dựng đức tin của Cơ đốc giáo trong ý muốn của Đức Chúa Trời. Các thư tín của Phao-lô góp phần vào Kinh Thánh, làm cho nổi bật tính trung tâm của Đấng Chirist trong suốt chiều dài của Kinh Thánh. - Giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái Giaó cũng như những người Do-thái đương thời đã gây rất nhiều khó khăn cho công việc truyền giảng Tin lành của Phao-lô. - Chúa Jêsus đã chọn Phao-lô là một Sứ đồ để đem Tin Lành đến cho dân ngoại, các Vua và các con dân Y-sơ-ra-ên ( Công vụ 9:15). Điều đó, Phao-lô có nhận thức rất rõ, và Ông nhận lấy như một quyền đến từ Đức Chúa Trời, Nhận quyền ấy như một trọng trách mà Phao-lô luôn phải giữ mình. Phao-lô vui lòng không vì những danh lợi tầm thường của thế gian, Ông phụng sự Thiên Chúa với một trách nhiệm cao cả và đã thành công. Sứ đồ Phao-lô đã đem Tin Lành cho các quốc gia Châu Âu, và qua Phao-lô Cơ Đốc Giaó đã phát triển, các tác phẩm của Phao-lô đã góp phần làm cho Kinh Thánh đầy đủ và trọn vẹn theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Có thể nói rằng: Tư tưởng thần học của Phao-lô là tư tưởng thần học của Cơ Đốc Giaó. ( còn tiếp)
Trong đời người sinh ra, lớn lên, thụ hưởng, trưởng thành và cuối cùng là đúc kết: Được mất, nên, hư, thịnh, suy...Con người hòa nhập trong cuộc sống, đời người gặp nhiều cơ hội, mỗi cơ hội đều tạo nên cho con người một sự nghiệp tốt đẹp nếu biết nhận nó như một dấu ấn của sự chuyển vận.
Con đường mà tôi đi như mọi thanh niên khác vào đời, cũng công danh và sự nghiệp.
Có một ngày kia tôi nhìn lên bức tường bằng sơn trắng dòng chữ: Ta là đường đi, chân lý và sự sống. ( Giăng 14:6a). Tôi tò mò câu nói nổi tiếng đó, cho đến nay tôi đi trên con đường mà Người phát ngôn đó đã đi gần như tôi thầm cảm phục về lẽ thật đó. Chúa Jêsus Ngài đã đến thế gian để cứu nhân loại-Ngài là cứu Chúa của nhân loại. Ba mươi ba năm Ngài sống trên đất, Chúa Jêsus đã đem niềm vui và mọi phước hạnh đến cho bất kỳ ai mà Ngài gặp. Lần cuối cùng tử nạn trên thập tự giá ở đồi Gô-gô-tha mà Chúa Jêsus cũng không từ chối lời cầu xin của kẻ cướp" Thật, Ta bảo con, hôm nay con sẽ được ở với Ta trong Pa-ra-đi"
( Lu-ca 23:43).
Tôi gặp Chúa Jêsus và tôi đã đọc Kinh Thánh.
Cuốn Kinh Thánh đã soi dẫn tôi từng bước vào đời và vào Vương quốc của Ngài.
" Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi.
Là ánh sáng của đường lối tôi"
( Thi Thiên 119:105)
Hôm qua làm chứng cho một bệnh nhân, sau khi kết thúc câu chuyện ra về, anh hỏi tôi: Nếu tôi tin Chúa thì không khó gì, nhưng bảo tôi đừng cúng giỗ và đừng ăn đồ cúng giỗ thì thật là khó lắm cho tôi vì tôi là con cả trong một gia đình đông anh chị em.
Sau đó, tôi có giải thích cho anh và anh rất thỏa lòng.
Sở dĩ, Tin Lành không được đến một cách mạnh mẽ trên đồng bào Việt Nam chúng ta đó là rào cản về: Phong tục, tập quán, thói quen về quan điểm tâm linh liên quan đến tín ngưỡng và hình tượng. Cái điều mất mát đó, rất nhỏ so với cái ân điển mà Đức Chúa Trời ban cho con người khi tiếp nhận Ngài làm cứu Chúa cho đời mình.
Theo đạo Tin Lành bỏ ông bỏ bà, bất hiếu v.v đó là câu thường gặp mà người Việt hay truyền cho nhau.
Bây giờ, trong ánh sáng của Chúa, tôi tạ ơn Ngài vì ngày ấy Ngài đã dùng các anh chị em đầy ơn đã giúp tôi tiếp nhân Ngài.
Tôi gặp Chúa và nhận được cuốn Kinh Thánh là cơ hội lớn nhất và có ý nghĩa sâu xa nhất trong cuộc đời mình.